Trang hay phần này đang được viết mới, mở rộng hoặc đại tu. Bạn cũng có thể giúp xây dựng trang này. Nếu trang này không được sửa đổi gì trong vài ngày, bạn có thể gỡ bản mẫu này xuống. Nếu bạn là người đã đặt bản mẫu này, đang viết bài và không muốn bị mâu thuẫn sửa đổi với người khác, hãy treo bản mẫu {{đang sửa đổi}}.
Trong thời kỳ cận đại – từ khoảng năm 1500 đến 1800 Công nguyên – các cường quốc châu Âu đã tiến hành khám phá và thuộc địa hóa nhiều khu vực trên khắp thế giới, qua đó đẩy mạnh sự giao thoa văn hóa và kinh tế toàn cầu. Đây là giai đoạn đánh dấu những bước tiến vượt bậc về trí tuệ, văn hóa và công nghệ ở châu Âu, được thúc đẩy bởi các phong trào lớn như Phục hưng, Cải cách tôn giáo tại Đức dẫn tới sự ra đời của Tin Lành, Cách mạng khoa học và Thời kỳ Khai sáng. Vào thế kỷ 18, sự tích lũy kiến thức và công nghệ đã đạt tới điểm bùng phát, dẫn đến Cách mạng Công nghiệp. Cuộc cách mạng này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành Đại phân kỳ và mở ra thời kỳ hiện đại bắt đầu từ khoảng năm 1800 Công nguyên. Sự tăng trưởng nhanh chóng về năng lực sản xuất đã thúc đẩy hơn nữa thương mại quốc tế, quá trình thuộc địa hóa và liên kết các nền văn minh khác nhau thông qua toàn cầu hóa, cũng như củng cố vai trò thống trị của châu Âu xuyên suốt thế kỷ 19. Trong vòng 250 năm qua (bao gồm cả hai cuộc chiến tranh thế giới thảm khốc), nhân loại đã trải qua sự tăng tốc đáng kinh ngạc trong nhiều lĩnh vực như dân số, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, tri thức khoa học, công nghệ, truyền thông, năng lực quân sự và sự suy thoái môi trường.
Việc nghiên cứu lịch sử loài người dựa trên những hiểu biết từ nhiều lĩnh vực học thuật như lịch sử, khảo cổ học, nhân học, ngôn ngữ học và di truyền học. Nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan dễ tiếp cận, các nhà nghiên cứu chia lịch sử nhân loại thành nhiều giai đoạn khác nhau theo các phương pháp phân kỳ.
Chi người vượn phương nam Australopithecine được cho là loài khỉ không đuôi đầu tiên đứng thẳng đi bộ bằng 2 chân, cuối cùng tiến hóa thành chi loài Homo.
Giống người hiện đại di cư ra khỏi châu Phi khoảng 70.000 năm trước, đến châu Âu khoảng 40.000 năm trước; và Đông Nam châu Á khoảng 50.000 năm trước.[3]
Sự lan rộng nhanh chóng của loài người đến Bắc Mỹ và châu Đại Dương đã diễn ra đỉnh điểm ở kỷ băng hà gần đây nhất, khi những vùng ôn đới của ngày nay đã từng vô cùng khắc nghiệt.
Tuy nhiên con người đã xâm chiếm gần như toàn bộ các vùng băng giá vào thời điểm cuối kỷ băng hà, khoảng 12.000 năm trước.
Các giống khỉ hình người khác như Người đứng thẳng (Homo erectus) đã sử dụng gỗ và đá làm công cụ trong cả thiên niên kỷ, theo thời gian các công cụ ngày càng trở nên tinh xảo. Tại một số thời điểm, con người bắt đầu sử dụng lửa để sưởi ấm và nấu ăn. Họ cũng bắt đầu phát triển ngôn ngữ vào giai đoạn Thời đại đồ đá cũ, và ý niệm về âm nhạc, phương thức chôn cất cho người chết và trang điểm cho người sống.
Sự thể hiện nghệ thuật đầu tiên có thể được tìm thấy dưới dạng bức tranh hang động và tác phẩm điêu khắc làm từ gỗ và xương. Trong thời điểm này, tất cả loài sống bằng săn bắt - hái lượm, và nói chung là du cư.
Các xã hội săn bắt - hái lượm có khuynh hướng rất nhỏ, mặc dầu trong một số trường hợp họ đã phát triển sự phân tầng xã hội và những tiếp xúc ở khoảng cách xa đã có thể diễn ra ở trường hợp những "xa lộ" bản xứ Australia.
Cuối cùng đa số các xã hội săn bắt - hái lượm đã phát triển, hay buộc phải bị hấp thu vào những tổ chức xã hội nông nghiệp lớn hơn. Những xã hội không hội nhập bị tiêu diệt, hay vẫn trong tình trạng cách ly, những xã hội săn bắt hái lượm nhỏ đó hiện vẫn tồn tại ở những vùng xa xôi.
Sự đi lên của văn minh loài người
Cuộc cách mạng nông nghiệp, bắt đầu từ khoảng 8000 năm TCN, sự phát triển của nông nghiệp đã gây ra thay đổi mạnh mẽ phương thức sống của con người. Nông nghiệp cho phép tập trung dân số dày hơn, theo thời gian nó chuyển biến thành các thành bang. Nông nghiệp cũng tạo ra lượng dư lương thực, cấp dưỡng cho những người không trực tiếp tham gia vào sản xuất lương thực. Sự phát triển nông nghiệp cho phép tạo ra các thành phố đầu tiên. Đây là các trung tâm thương mại, sản xuất thủ công nghiệp và quyền lực chính trị mà bản thân nó gần như không có sản xuất nông nghiệp. Sự hình thành các thành phố đi kèm là sự cộng sinh với các vùng nông thôn xung quanh nó, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, và cung cấp lại các sản phẩm thủ công nghiệp và nhiều cấp độ khác nhau về kiểm soát quân sự và bảo vệ lãnh thổ.[4][5][6]
Sự phát triển của các thành phố đồng nghĩa với sự đi lên của nền văn minh[7].
Nền văn minh xuất hiện sớm nhất là ở vùng Lưỡng Hà(3500 năm TCN)[8][9]. Tiếp sau là nền văn minh Ai Cập cổ đại dọc dòng sông Nin (3000 năm TCN)[10] và văn minh lưu vực sông Ấn ở thung lũng sông Ấn (hiện tại là Ấn Độ và Pakistan; 2500 năm TCN)[11][12]. Các xã hội này phát triển dựa trên một số đặc điểm thống nhất, gồm một chính quyền trung ương, một nền kinh tế và cấu trúc xã hội phức tạp, hệ thống ngôn ngữ và chữ viết phức tạp, nền văn hóa và tôn giáo khác biệt. Chữ viết là mấu chốt trong lịch sử phát triển của loài người, vì nó giúp chính quyền của các thành phố biểu đạt ý nghĩ dễ dàng hơn.
Nền văn minh trở nên phức tạp kéo theo làm phức tạp về tôn giáo, và dạng đầu tiên cũng bắt nguồn từ giai đoạn này[13][14][15]. Các thực thể như mặt trời, mặt trăng, Trái Đất, bầu trời và biển thường được tôn sùng[16]. Các đền thờ được xây dựng, phát triển, và dần hoàn thiện với hệ thống cấp bậc như linh mục,thầy tế và các chức danh khác. Điển hình của thời kỳ đồ đá này là có xu hướng thờ các vị thần mang hình dáng con người. Trong số những văn bản kinh tôn giáo lâu đời nhất còn tồn tại là các văn bản kim tự thápAi Cập (khoảng giữa 2400 đến 2300 TCN)[17]. Một số nhà khảo cổ học cho rằng, dựa trên dấu tích khai quật được ở ngôi đền Göbekli Tepe (Potbelly Hill) ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, có niên đại từ 11500 năm trước, tôn giáo hình thành trước khi xảy ra cuộc cách mạng nông nghiệp chứ không phải sau như suy nghĩ trước đó[18].
Thời đại đồ đồngLưu trữ 2022-10-25 tại Wayback Machine là một phần trong hệ thống ba thời đại (thời đại đồ đá mới, thời đại đồ đồng, thời đại đồ sắt), là thuật ngữ mô tả nền văn minh cổ đại từng tạo ảnh hưởng tại một số khu vực trên thế giới. Trong thời đại này những vùng đất màu mỡ đã sản sinh ra những thành bang và những nền văn minh này bắt đầu phát triển hưng thịnh ở một số nơi trên thế giới. Các nền văn minh đều nằm trên lưu vực ven sông bởi nước có vai trò thiết yếu trong một xã hội nông nghiệp, và các dòng sông cũng hỗ trợ cho nhu cầu giao thông vận tải được trở nên thuận tiện.
Lưỡng Hà là vùng đất thuộc vùng đồng bằng trăng lưỡi liềm, nơi khai sinh ra các nhà nước thành bang cổ đại. Vùng giao nhau của sông Tigris và sông Euphrates đã tạo nên một vùng đất màu mỡ và nguồn cung cấp nước cho tưới tiêu. Những nền văn minh nổi lên xung quanh hai con sông này là những nền văn minh lâu đời nhất không du canh- du cư được biết cho đến nay. Vùng Lưỡng Hà này sản sinh ra những nền văn minh như Sumerian, Akkadian, Assyrian, and Babylonian[19].
Sumerian, một trong những nền văn minh phát triển mạnh trong khu vực Lưỡng Hà là nền văn minh phức tạp đầu tiên được biết đến cho đến nay, phát triển từ một số thành bang vào thiên niên kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Nền văn minh này phát minh ra gạch, bánh xe, công cụ cày bừa, và đồ gốm lần đầu tiên trong lịch sử.
Nền văn minh Sumerian nổi lên trong suốt thời kỳ Ubaid (Ubaid period) (6500-3800 TCN) và những thành phố cổ đại Uruk, Eridu phát triên ổn định trong giai đoạn đầu thời kỳ Ubaid. Tại thành phố cổ Eridu (miền nam Lưỡng Hà) những ngôi đền thờ nằm xen lẫn với các khu định cư cổ đại (khoảng 5000 năm TCN).
Nông nghiệp Sumerian phát triển trên lưu vực sông Tigris và sông Euphrates. Lương thực dư thừa dẫn đến phân công lao động, không cần phải ai cũng tham gia vào nông nghiệp, cuối cùng hình thành các tầng lớp xã hội. Trên là vua Sumerian, thầy tế, và quan chức chính quyền dưới là các người phụ việc, thương gia, nông dân, ngư dân. Đáy xã hội là những người nô lệ. Nô lệ thường là một phạm nhân, tù nhân, hoặc những người trong nợ nần.
Trong khu vực Lưỡng Hà, dạng chữ viết đầu tiên đã xuất hiện là chữ hình nêm (Cuneiform) có nguồn gốc từ hệ thống chữ tượng hình. Những hình ảnh đại diện của nó dần trở nên đơn giản hơn. Chữ hình nêm được viết trên đá phiến sét, những chữ cái được viết bằng cây sậy có tác dụng như bút trâm (Stylus). Cùng với sự thành lập của các trạm chuyển phát sự quản lý quốc gia trở nên dễ dàng hơn. Với người Sumerian chỉ những con cái nhà giàu, quý tộc mới được học chữ. Chúng được học tại một nơi gọi là Edubba, chỉ có con trai được học.
Các văn bản lịch sử văn hóa đã góp phần vào sự tồn tại của nền văn minh này. Một trong những văn bản cổ nhất trên thế giới, có tên Sử thi Gilgamesh, có nguồn gốc từ nền văn minh này.
Năm 2400 TCN, đế chế Akkadian được tạo dựng ở vùng Lưỡng Hà[20].
Vài thế kỷ tiếp sau, đế chế Assyria nổi lên, tiếp theo đó là đế chế của người Babylon.
Lưu vực sông Nin ở Bắc Phi là nơi ra đời nền văn minh Ai Cập cổ đại. Khoảng 6000 năm TCN, xuất hiện các vương quốc của xã hội tiền Ai Cập cổ đại (trước khi xuất hiện chế độ quân chủ ở Ai Cập) có kĩ năng trồng trọt và chăn thả gia súc.
Những hình ảnh ban đầu đó có thể quan sát được qua những biểu tượng trên đồ gốm của nền văn hóa Gerzeh, khoảng 4000 năm TCN, giống với chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại. Vữa hồ bắt đầu được sử dụng từ khoảng 4000 năm TCN, đồ gốm sứ bắt đầu được sản xuất từ khoảng 3500 năm TCN. Bệnh viện và trung tâm phục vụ y tế bắt đầu có từ 3000 năm TCN.
Bằng chứng khảo cổ cho thấy sự hiện diện của con người ở khu vực tây nam Ai Cập, gần biên giới với Sudan, khoảng 8000 năm TCN. Khoảng 7000-3000 TCN, khí hậu sa mạc Sahara ẩm ướt hơn ngày hôm nay, do đó cho phép các hoạt động canh tác trên đất mà bây giờ trở nên khô hạn. Biến đổi khí hậu bắt đầu từ sau năm 3000 TCN dẫn đến quá trình khô cằn dần dần trong khu vực. Do tác động của những biến đổi này, các cư dân của bộ lạc cổ đại tại sa mạc Sahara buộc phải di chuyển đến khu vực xung quanh sông Nin khoảng năm 2500 TCN. Ở đó, họ phát triển một nền kinh tế và xã hội nông nghiệp và hệ thống xã hội phức tạp hơn. Bộ tộc người từ lâu đã sinh sống hai bên bờ sông Nin cũng đã phát triển cộng đồng của họ một cách độc lập. Gia súc được nhập từ châu Á khoảng 7500-4000 năm TCN.
Người Ai Cập cổ đại được biết đến với nhiều thành tựu và phát minh trong lịch sử, bao gồm cả việc xây dựng các kim tự tháp khổng lồ, phẫu thuật cổ đại, khoa học toán học, và vận tải bằng thuyền.
Sự nổi lên của triều đại Ai Cập bắt đầu khi thống nhất Thượng và Hạ Ai Cập khoảng 3200 năm TCN, và kết thúc vào khoảng năm 340 TCN, bắt đầu từ triều đại Nhà Achaemenes trên lãnh thổ Ai Cập. Vương quốc của Ai Cập dẫn đầu bởi một vị vua nắm giữ cung điện Pharaon. Lúc đỉnh điểm, đế chế của ông trải dài từ đồng bằng sông Nin đến núi Gebel Barkal, Sudan.
Xã hội Ai Cập cổ đại tạo dựng sự cân bằng giữa con người với thiên nhiên, đặc biệt là dựa vào dòng sông Nin trong tưới tiêu nông nghiệp của họ. Quốc gia cổ đại này được biết qua những văn bản chữ tượng hình, công trình kim tự tháp, đền thờ và các lăng mộ dưới lòng đất; sử dụng xe ngựa chiến để tăng cường sức mạnh quân đội.
Có sự khác biệt lớn giữa các tầng lớp xã hội. Hầu hết các thành viên cộng đồng là nông dân, nhưng họ không được hưởng sản phẩm họ trồng được. Sản phẩm nông nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước, đền thờ, hoặc gia đình quý tộc có đất nông nghiệp. Chế độ nô lệ cũng tồn tại, nhưng chi tiết về họ trong xã hội Ai Cập cổ đại vẫn chưa rõ ràng[21].
Văn minh lưu vực sông Ấn xuất hiện khoảng 3300 năm TCN. Giai đoạn đầu xuất hiện trước 4000 năm TCN. Trung tâm của nền văn minh là nằm bao quanh sông Ấn (chủ yếu thuộc lãnh thổ của Pakistan, và một phần nhỏ là thuộc Afghanistan, Iran và Ấn Độ), mở rộng về phía đông đến lưu vực sông Ghaggar-Hakra[22] và ngược dòng vươn tới sông Hằng- sông Yamuna[23][24]. Phía tây mở rộng tới bờ biển Makran thuộc Balochistan (Pakistan), phía nam đến làng Daimabad, tỉnh Maharashtra, Ấn Độ.
Sự phát triển của nền văn minh được chia thành nhiều giai đoạn và đánh dấu sự phát triển của các thành phố trong tiểu lục địa Ấn Độ.[25].
Đây là nền văn minh đầu tiên xuất hiện hoạt động nông nghiệp ở Nam Á.
Lúa mì (tiểu mạch), đại mạch, và táo tàu (Jujube) được trồng khoảng 9000 năm trước Công nguyên; dê và cừu nuôi sau đó[26]. Nền nông nghiệp và chăn nuôi phát triển tại Mehrgarh khoảng 8000-6000 năm TCN[27][28]. Thời kỳ này cũng xuất hiện sự kiện thuần hóa loài voi.
Khoảng thiên niên kỷ thứ 5 trước Công nguyên, một cộng đồng nông nghiệp nằm rải rác ở khu vực Kashmir[29].
Tại các bãi khảo cổ của nền văn minh này người ta tìm thấy các vật dụng như giỏ, công cụ bằng đá, công cụ bằng xương, vòng cổ, vòng tay, hoa tai, vỏ động vật giáp xác biển, đá vôi, ngọc lam, sa thạch và đồng.
Nền văn minh này phát triển thịnh vượng các thành phố gồm: Harappa (3300 TCN), Dholavira (2900 TCN), Mohenjo-Daro (2500 TCN), Lothal (2400 TCN), và Rakhigarhi, và hơn 1000 thị trấn và ngôi làng nhỏ khác. Kiến trúc đô thị của nền văn minh này được xây bằng gạch, có hệ thống thoát nước bên đường, và nhà ở tập trung liền sát nhau (Terraced house). Các thành phố lớn có bề rộng khoảng một dặm, và có khoảng cách lớn giữa các thị trấn và nhiều khả năng là dấu hiệu của sự tập trung chính trị, hoặc dưới dạng của 2 thành bang, hoặc dưới dạng một đế chế không có thủ đô cố định hay có lẽ thay thế Harappa, Mohenjo-Daro, do bị phá hủy bởi lũ lụt không chỉ một lần[30].
Nền văn minh này cũng được biết đến với việc sử dụng hệ thống đo lườngthập phân cổ đại[31][32].
Vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, sự phát triển của văn minh lưu vực sông Indus bước vào thời kỳ Vệ Đà. Bộ sách thánh ca Vệ đàtiếng Phạn theo ước tính được soạn thảo từ 1700-1100 TCN, bộ sưu tập các bài thánh ca này trở thành nền tảng của Ấn Độ giáo và xu hướng của các xã hội tiền Ấn Độ khác.
Vào một thời điểm không chắc chắn khoảng cuối thế kỷ thứ VI TCN, có một người tiên phong tạo nên Ấn Độ giáo, tôn giáo mà còn tồn tại đến ngày nay.
Khởi phát nền văn minh Trung Quốc nằm cách không xa sông Hoàng Hà (dọc theo sông Trường Giang) do xung quanh khu vực tìm thấy nhiều di tích của thời Trung Quốc tiền sử.
Các nền văn minh thời đại đồ đá mới tìm thấy được ở Trung Quốc là văn minh Bành Đầu Sơn (Pengtoushan) (sông Trường Giang) và văn minh Bùi Lý Cương (Kebudayaan Peiligang), tất cả chúng đều xuất hiện khoảng 7000 năm TCN hoặc sớm hơn.
Giai đoạn văn hóa Bành Đầu Sơn khó xác định, kết quả các tính toán cho biến thiên từ 9000-5500 năm TCN, tại di chỉ của nền văn hóa này tìm thấy dấu tích của lúa gạo từ khoảng 7000 năm TCN.
Tại di chỉ Giả Hồ (Jiahu) cổ đại tìm thấy vài bằng chứng về việc trồng lúa. Một khám phá quan trọng tại Giả Hồ là cây sáo cổ có niên đại khoảng 7000-6000 năm TCN.
Văn minh Bùi Lý Cương là một trong những nền văn minh lâu đời nhất tại Trung Quốc có sản xuất đồ gốm.
Cả nền văn minh Bành Đầu Sơn và nền văn minh Bùi Lý Cương đều phát triển hoạt động trồng Kê, chăn nuôi, lưu trữ và phân phối thực phẩm. Bằng chứng khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện của các thợ thủ công, đày tớ.
Lối chữ hình vẽ (Pictogram) được cho là khởi đầu của hệ thống chữ viết Trung Quốc bắt nguồn từ các hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi tại Trung Quốc.
Tại di chỉ Giả Hồ tìm thấy một số lối chữ hình vẽ, nó không được xem là có hệ thống chữ viết nhưng những ký hiệu đó dẫn đến hệ thống chữ viết[33].
Tại văn hóa Đại Mạch Địa (Damaidi), Ninh Hạ có hàng ngàn dấu chạm khắc trên vách đá có từ 6000-5000 năm TCN, mang những đặc trưng của lối chữ hình vẽ giống với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thánh thần, các khung cảnh đi săn và trông nom gia súc. Lối chữ hình vẽ tại đây gần như tương đồng với các ký tự Trung Quốc cổ đại được biết cho đến nay[34][35].
Văn hóa Bành Đầu Sơn được thay thế bởi văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao culture) (5000-3000 năm TCN) ảnh hưởng của nền văn hóa này bao trùm phía Bắc Trung Quốc. Nền văn hóa này cũng đã thay thế nền văn hóa Long Sơn (Yangshao culture) khoảng 2500 năm TCN. Tại địa điểm khảo cổ di chỉ Tam Tinh Đôi (Sanxingdui) và văn hóa Nhị Lý Đầu (Erlitou culture) có bằng chứng của văn minh đồ đồng. Con dao bằng đồng với hình thái cổ xưa nhất (khoảng 3000 năm TCN) được tìm thấy tại di chỉ văn hóa Mã Gia Diêu (Majiayao culture) (thuộc tỉnh Cam Túc và tỉnh Thanh Hải).
Theo lịch sử Trung Quốc, sông Hoàng Hà được sử dụng cho tưới tiêu khoảng năm 2200 TCN thời vua Hạ Vũ, người đặt nền móng nhà Hạ. Nhà Hạ (khoảng 2100-1600 TCN) được đề cập là triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, nó được nhắc đến trong sử ký Tư Mã Thiên và Trúc thư kỉ niên[36][37]. Mặc dù có sự tranh cãi về triều đại thần thoại này, có vài bằng chứng khảo cổ học chứng minh cho sự tồn tại của nó. Tư Mã Thiên nói rằng triều đại này thành lập được thành lập khoảng năm 2200 TCN nhưng mốc thời gian này không thuyết phục. Hiện nay nhiều nhà khảo cổ học kết nối được sự tồn tại của triều đại nhà Hạ bởi cuộc khai quật ở tỉnh Hà Nam[38], nơi khám phá ra những nội thất đồ đồng khoảng năm 2000 TCN.
Triều đại lịch sử đầu tiên được công nhận là triều đại nhà Thương, khoảng năm 1500 TCN. Bằng chứng khảo cổ học cho sự tồn tại của triều đại nhà Thương là các đồ tạo tác bằng đồng và giáp cốt văn, mai rùa hay xương thú được khắc các ký tự Trung Quốc cổ, các văn tự này được tìm thấy ở lưu vực sông Hoàng Hà tại thủ đô Triều Ca nhà Thương. Các di tích mai rùa của nhà Thương có niên đại 1500 năm TCN, tính toán theo công nghệ Cacbon phóng xạ.
Thay thế nhà Thương là nhà Chu, vào khoảng thế kỷ XI TCN. Thời điểm kết thúc nhà Chu đã ra đời 2 nhà triết học nổi tiếng Trung Quốc là Khổng Tử (người thiết lập Khổng giáo) và Lão Tử (người thiết lập Đạo giáo[39].
Trong hang động Franchthi, phía đông nam Argolis, Hy Lạp có bằng chứng về hoạt động nông nghiệp của Hy Lạp cổ đại. Xấp xỉ 11000 năm TCN, canh tác ngũ cốc, các loạt hạt, lúa mì xảy ra đồng thời[40], trong khi yến mạch và đại mạch xuất hiện khoảng 10500 năm TCN; đậu Hà Lan và Lê thì khoảng 7300 năm TCN.
Khu vực định cư thời đồ đá mới rải rác khắp Hy Lạp cùng với hoạt động nông nghiệp và sản xuất đồ gốm. Những địa điểm nổi tiếng như Sesklo và Dimini, đã có đường giao thông, quảng trường. Nó là một ví dụ về không gian thành phố cổ trong lục địa châu Âu. Một địa điểm quan trọng khác là Dispilio nơi phát hiện ra một phiến đá cổ xưa với đường nét như văn bản cổ[41].
Văn minh Minoan là nền văn minh thời đại đồ đồng đầu tiên tại Hy Lạp.
Nền văn minh phát sinh trên đảo Crete và phát triển mạnh mẽ khoảng 2700-1500 năm TCN, nhưng thời điểm khởi đầu phát triển của nó xảy ra rất xa trước đó[42]. Con người bắt đầu sinh sống trên đảo Crete ít nhất từ 128.000 năm TCN, trong thời kỳ đồ đá cũ[43]. Các hoạt động nông nghiệp ngày lớn, phức tạp hơn, và dẫn đến nền văn minh dần được khởi tạo vào khoảng 5000 năm TCN[44]. Sự tồn tại của các nền văn minh này đã bị lãng quên đến khi nó được phát hiện vào đầu thế kỷ XX bởi nhà khảo cổ học người Anh Sir Arthur Evans. Will Durant nhìn nhận nền văn minh là "xâu chuỗi đầu tiên trong sợi dây lịch sử châu Âu"[45].
Nền văn minh Mycenae phát triển tại phía bắc của đảo Crete khoảng năm 1600 TCN, khi nền văn hóa Helladik trên đất liền Hy Lạp chuyển đổi dưới ảnh hưởng của nền văn hóa Minoan của đảo Crete.
Không giống như người Minoan người dựa vào thương mại. Nền văn minh Mycenae có cộng đồng thích đi xâm chiếm, thống trị bởi tầng lớp hiệp sĩ quý tộc Aristocracy.
Khoảng năm 1400 TCN, người dân Mycenae mở rộng phạm vi quyền lực của họ cho Crete do trung tâm của nền văn minh Minoan gặp phải vụ phun trào Minoa tại đảo Santorini, và họ chấp nhận hệ thống chữ viết Linear A để viết ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, hệ thống chữ viết phát triển trong suốt văn minh Mycenae gọi là Linear B[46].
Truyền thuyết về các cuộc xâm chiếm giữa các thành bang ở Hy Lạp không chỉ là Mycenae, thành bang Troy được đề cập đến trong sử thi Iliad như là một đối thủ của Mycenae. Vì chỉ có duy nhất nguồn sử liệu của Hómēros về lịch sử thành Troy và cuộc chiến tranh thành Troia nên có thể nó không có thật. Năm 1876, nhà khảo cổ học người Đức Heinrich Schliemann khám phá ra các di tích tại Hisarlik, vùng phía tây bán đảo Tiểu Á thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày này và công bố rằng nó là địa điểm của thành Troy. Chắc chắn rằng địa điểm của thành Troy được nhắc đến bởi Hómēros vẫn còn tiếp tục bị bàn cãi[47]
Nền văn minh Hy Lạp đã ảnh hưởng rất lớn đến các nền văn minh châu Âu sau đó, đặc biệt là nền văn minh La Mã. Trong Hy Lạp cổ các thành bang Athena, Sparta, Corinth, và Thebes có nền chính trị độc lập, và mối quan hệ ít căng thẳng với nhau. Nếu một thành phố không đủ nhu cầu lương thực để duy trì toàn bộ dân số, thì họ sẽ rời đi một phần để thiết lập một thành phố mới, thị trấn mới có vai trò thuộc địa, lệ thuộc vào thành phố ban đầu để cùng bảo vệ trước các mối đe dọa, trước các cuộc chiến với bên ngoài.
Một sự thay đổi lớn, được miêu tả bởi nhà tiền sử học Vere Gordon Childe như là một "cuộc cách mạng," đã diễn ra khoảng thiên niên kỷ 9 TCN với việc hình thành nghề nông. Mặc dầu nghiên cứu có khuynh hướng tập trung vào vùng đất Trăng lưỡi liềm màu mỡ ở Trung Đông, khảo cổ học ở châu Mỹ, Đông Á và Đông Nam Á cho thấy rằng những hệ thống nông nghiệp trồng cấy nhiều loại ngũ cốc khác nhau và sử dụng các loại gia súc khác nhau có thể đã phát triển hầu như đồng thời ở một số nơi.
Một bước tiến nữa ở nông nghiệp Trung Đông xảy ra với sự phát triển tưới tiêu có tổ chức và sử dụng lực lượng lao động chuyên biệt, bởi những người Sumer, bắt đầu vào khoảng 5.500 TCN. Đồng và sắt thay thế đá để trở thành công cụ trong nông nghiệp và chiến tranh. Tới tận lúc đó những xã hội nông nghiệp định cư hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào các công cụ đá. Ở Âu Á, các công cụ đồng đỏ và đồng thau, những đồ trang trí và vũ khí bắt đầu trở nên dồi dào vào khoảng năm 3000 TCN. Sau đồ đồng, vùng Đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Trung Quốc bắt đầu sử dụng công cụ và vũ khí bằng sắt.
Những người dân châu Mỹ có thể không hề biết tới công cụ kim loại cho tới tầng Chavin năm 900 TCN. Chúng ta cũng biết rằng Moche có áo giáp, những con dao và bộ đồ ăn bằng kim loại. Thậm chí người Inca vốn ít dùng đồ kim loại cũng có những chiếc cày mũi kim loại, ít nhất sau khi chinh phục Chimor. Tuy nhiên, ít có những tìm kiếm khảo cổ học ở Peru và hầu như toàn bộ khipus (những vật sáng chế để ghi lại thông tin, dưới hình thức các nút thắt, người Incas từng sử dụng) đã bị đốt cháy khi diễn ra Cuộc chinh phục Peru của người Tây Ban Nha. Toàn bộ các thành phố vẫn đang được khám phá vào năm 2004. Một số khai quật khảo cổ cho thấy rằng có thể thép đã từng được chế tạo tại đây trước khi nó phát triển ở châu Âu.
Các vùng lưu vực ven sông trở thành những cái nôi của những nền văn minh đầu tiên như lưu vực sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, sông Nin ở Ai Cập, và lưu vực sông Ấn ở Pakistan. Một số dân tộc du cư, như những người Thổ dân Australia và thổ dân Nam Phi ở phía Nam châu Phi, không biết tới nông nghiệp cho tới tận thời hiện đại.
Nhiều nhóm người không thuộc về các quốc gia trước 1800. Trong số những nhà khoa học, đã có sự bất đồng về thuật ngữ "bộ lạc" phải được sử dụng để miêu tả loại xã hội của những người sống trong đó. Những phần rộng lớn của thế giới có thể là lãnh thổ của những "bộ lạc" đó trước khi người châu Âu bắt đầu tiến hành thực dân hoá. Nhiều "bộ lạc" chuyển thành quốc gia khi họ bị đe dọa hay bị ảnh hưởng bởi các quốc gia. Ví dụ như Marcomanni và Lát via. Một số "bộ lạc", như Kassites và Mãn Châu, chinh phục các quốc gia và lại bị chúng đồng hoá.
Nông nghiệp đã tạo cơ hội cho các xã hội phức tạp hơn, cũng được gọi là những nền văn minh. Các cuộc gia và các thị trường xuất hiện. Các kỹ thuật cải thiện khả năng của con người nhằm kiểm soát thiên nhiên và phát triển giao thông và thông tin.
Những xã hội nói trên dần phát triển một số đặc điểm chung bao gồm chính quyền trung ương, nền kinh tế và cơ cấu xã hội phức tạp, cùng với hệ thống lưu trữ thông tin.[56] Các nền văn hóa ấy đã tạo ra nhiều phát minh quan trọng, chẳng hạn như bánh xe,[57] toán học,[58] nghề luyện đồng,[59] thuyền buồm,[60]bàn xoay gốm,[59]dệt vải,[61] kỹ thuật xây dựng các công trình kiến trúc hoành tráng[61] và chữ viết.[62] Bên cạnh đó, thuyết đa thần cũng được hình thành với trung tâm là đền thờ, nơi các thầy tế và nữ tu thực hiện những nghi lễ hiến tế.[63]
Chữ viết đóng vai trò quan trọng trong cviệc quản lý các thành phố, truyền đạt ý tưởng và lưu giữ thông tin.[64] Chữ viết có lẽ đã phát sinh một cách độc lập tại ít nhất bốn nền văn minh cổ đại: Lưỡng Hà (3300 TCN),[65] Ai Cập (khoảng năm 3250 TCN),[66] Trung Quốc (1200 TCN)[67] và vùng trũng Trung Bộ châu Mỹ (trước năm 650 TCN).[68] Hệ thống chữ viết cổ xưa nhất[b] là chữ hình nêm Lưỡng Hà, khởi đầu dưới dạng các ký hiệu tượng hình mô phỏng trực quan sự vật, rồi chúng dần được giản lược và mang tính trừu tượng hơn.[70][c] Bên cạnh chữ hình nêm, một số hệ thống chữ viết cổ đại có sức ảnh hưởng lớn khác bao gồm chữ tượng hình Ai Cập và chữ Indus.[72] Ở Trung Quốc, chữ viết được sử dụng lần đầu tiên dưới thời nhà Thương (1766–1045 TCN).[73]
Giao thông vận tải được cải thiện nhờ các tuyến đường thủy bao gồm sông ngòi và biển cả, không chỉ giúp triển khai sức mạnh quân sự mà còn thúc đẩy sự trao đổi hàng hóa, tư tưởng và phát minh.[74] Thời đại đồ đồng cũng chứng kiến sự ra đời của những công nghệ quân sự mới trên bộ, chẳng hạn như kỵ binh và xe ngựa chiến – cho phép lục quân cơ động nhanh chóng hơn.[75] Hoạt động thương mại ngày càng trở nên quan trọng khi các xã hội đô thị trao đổi hàng hóa chế tác để lấy nguyên liệu thô từ những vùng đất xa xôi, từ đó tạo nên các mạng lưới thương mại rộng lớn và đặt nền móng cho quá trình toàn cầu hóa sơ khai.[76] Ví dụ, ngành sản xuất đồng điếu ở Tây Nam Á đòi hỏi phải nhập khẩu thiếc từ những nơi xa xôi như nước Anh.[77]
Sự phát triển của các thành phố thường kéo theo sự hình thành của các nhà nước và đế chế.[78] Tại Ai Cập, ban đầu khu vực này được chia thành Thượng và Hạ Ai Cập. Tuy nhiên, đến khoảng năm 3100 TCN, toàn bộ thung lũng sông Nile đã được thống nhất dưới một vương triều duy nhất.[79] Khoảng năm 2600 TCN, nền văn minh thung lũng sông Ấn đã xây dựng những thành phố lớn như Harappa và Mohenjo-daro.[80] Lịch sử Lưỡng Hà gắn liền với những cuộc chiến tranh triền miên giữa các thành bang, khiến quyền bá chủ thay đổi luân phiên từ thành phố này sang thành phố khác.[81] Trong khoảng thời gian từ thế kỷ 25 đến thế kỷ 21 TCN, khu vực này chứng kiến sự trỗi dậy của các đế chế như Akkad và Tân Sumer.[82] Tại đảo Crete, nền văn minh Minos đã hình thành vào khoảng năm 2000 TCN và được xem là nền văn minh đầu tiên của châu Âu.[83]
Trong những thiên niên kỷ tiếp theo, các nền văn minh đã phát triển trên khắp thế giới.[84] Đến năm 1600 TCN, nền văn minh Mycenae ở Hy Lạp bắt đầu vươn mình.[85] Nền văn minh ấy đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ cho tới khi Thời kỳ đồ đồng muộn sụp đổ (Late Bronze Age collapse) – một sự kiện làm rung chuyển nhiều nền văn minh quanh Địa Trung Hải trong khoảng thời gian từ năm 1300 đến 1000 TCN.[86]
Thời kỳ trung đại, kéo dài từ khoảng năm 500 đến 1500 Công nguyên,[d] được đánh dấu bởi sự trỗi dậy và lan tỏa của những tôn giáo lớn trong khi nền văn minh mở rộng đến nhiều vùng đất mới trên thế giới và hoạt động giao thương giữa các xã hội ngày càng trở nên sôi động.[89] Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 13, Thời kỳ ấm Trung cổ ở bán cầu Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, dẫn đến sự gia tăng dân số tại nhiều khu vực thuộc châu Âu và châu Á.[90] Sau đó là Thời kỳ băng hà nhỏ – kết hợp với các dịch bệnh trong thế kỷ 14 – đã khiến dân số Á-Âu suy giảm nghiêm trọng.[90] Những phát minh quan trọng trong thời trung đại bao gồm thuốc súng, súng hỏa mai và kỹ thuật in ấn, tất cả đều có nguồn gốc từ Trung Quốc.[91]
Tại Tây Phi, Đế chế Mali và Đế chế Songhai lần lượt trỗi dậy.[94] Ở vùng duyên hải phía đông nam châu Phi, các cảng Ả Rập được thiết lập – nơi diễn ra hoạt động trao đổi vàng, gia vị và nhiều loại hàng hóa khác. Điều ấy giúp châu Phi hội nhập vào hệ thống thương mại Đông Nam Á, mở ra cơ hội tiếp xúc với châu Á và góp phần hình thành nên văn hóa Swahili.[95]
Trung Quốc đã trải qua các triều đại nối tiếp nhau tương đối liên tục bao gồm Tùy, Đường, Tống, Nguyên và giai đoạn đầu của triều Minh.[96] Các tuyến thương mại ở Trung Đông dọc theo Ấn Độ Dương và Con đường tơ lụa băng qua sa mạc Gobi đã tạo ra sự giao lưu kinh tế và văn hóa dù còn hạn chế giữa các nền văn minh châu Á với châu Âu.[97] Cùng thời điểm, những nền văn minh ở châu Mỹ như Mississippian,[98]Aztec,[99] Maya[100] và Inca đã đạt tới đỉnh cao phát triển của mình.[101]
Trước khi Hồi giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ 7, Trung Đông bị chi phối bởi Đế chế Byzantine và Đế chế Sasanian, hai bên thường xuyên chạm trán nhau để giành quyền kiểm soát một số vùng lãnh thổ tranh chấp.[102] Đây không chỉ là một cuộc chiến quân sự mà còn là sự cạnh tranh văn hóa, khi Văn hóa Kitô giáo Byzantine đối đầu với các truyền thống Hỏa giáo của Ba Tư.[103]Sự ra đời của Hồi giáo đã đánh dấu sự trỗi dậy của một thế lực mới, nhanh chóng vượt qua cả hai đế chế này.[104]
Muhammad, người sáng lập Hồi giáo, đã khởi xướng các cuộc chinh phục ban đầu của người Hồi giáo vào thế kỷ thứ 7.[105] Ông dựng lên một chính thể thống nhất mới tại bán đảo Ả Rập, chính thể ấy nhanh chóng mở rộng lãnh thổ dưới triều đại Rashidun và Umayyad. Đỉnh cao của sự mở rộng đó là việc thiết lập quyền cai trị của người Hồi giáo trên ba châu lục (Á, Phi và Âu) vào năm 750 Công Nguyên.[106]Triều đại Abbasid kế cận đã chèo lái Thời đại hoàng kim của Hồi giáo – một kỷ nguyên rực rỡ về tri thức, khoa học và sáng tạo – nơi triết học, nghệ thuật và văn học phát triển mạnh mẽ.[107][e] Các học giả Hồi giáo đã lưu giữ và tổng hợp những tinh hoa tri thức từ Hy Lạp và Ba Tư cổ đại,[109] tiếp thu kỹ thuật sản xuất giấy từ Trung Quốc[110] và hệ đếm thập phân theo vị trí từ Ấn Độ.[111] Đồng thời, họ còn có những đóng góp quan trọng mang tính nguyên bản trong nhiều lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như sự phát triển của đại số do Al-Khwarizmi khởi xướng và hệ thống triết học toàn diện của Avicenna.[112] Nền văn minh không chỉ mở rộng qua các cuộc chinh phục mà còn nhờ vào nền kinh tế thương mại sôi động.[113] Nhiều thương nhân mang theo cả hàng hóa lẫn đức tin Hồi giáo đến các khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á và châu Phi.[114]
Sự thống trị của người Ả Rập tại Trung Đông chấm dứt vào giữa thế kỷ 11 khi người Thổ Seljuk di cư từ vùng đất tổ tiên của họ ở phía bắc xuống phía nam.[115] Người Seljuk về sau phải đối mặt với sức ép từ châu Âu trong Thập tự chinh – một loạt các cuộc chiến tranh tôn giáo nhằm thu hẹp lãnh thổ đạo Hồi và tái kiểm soát Đất Thánh.[116] Song các cuộc Thập tự chinh cuối cùng đã không đạt được mục tiêu đề ra mà ngược lại còn làm suy yếu Đế chế Byzantine, đặc biệt là với vụ cướp phá Constantinople [en] vào năm 1204.[117] Đầu thế kỷ 13, một làn sóng xâm lược mới xuất hiện khi người Mông Cổ càn quét qua khu vực này nhưng cuối cùng họ đã bị lu mờ bởi sự trỗi dậy của người Thổ và sự thành lập Đế chế Ottoman tại vùng đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1299.[118]
Khu vực Caucasus từng là chiến trường của hàng loạt cuộc chiến tranh giữa Đế chế Byzantine và Đế chế Sasanian. Tuy nhiên, hai cường quốc đối địch nói trên dần kiệt quệ do các cuộc xung đột liên miên. Điều này tạo điều kiện cho nhà Rashidun dễ dàng mở rộng lãnh thổ vào nơi đây trong các cuộc chinh phục ban đầu của người Hồi giáo.[123] Vào thế kỷ 11, người Thổ Seljuk đã thảo phạt Armenia và Gruzia. Tiếp nối, người Mông Cổ xâm lược Caucasus vào thế kỷ 13.[124]
Những người du mục từ vùng thảo nguyên Trung Á tiếp tục là mối đe dọa đối với các xã hội định cư trong thời kỳ trung đại, nhưng chính họ cũng phải đối mặt với những cuộc xâm lấn từ người Ả Rập và Trung Quốc.[125] Trung Quốc đã mở rộng lãnh thổ vào Trung Á trong thời nhà Tùy (581–618).[126] Tại đây, người Trung Quốc đụng độ với các bộ tộc du mục người Thổ, một nhóm dân tộc đang dần trở thành thế lực chi phối trong khu vực.[127] Ban đầu mối quan hệ giữa hai bên chủ yếu mang tính hợp tác – nhưng tới năm 630, nhà Đường bắt đầu tấn công người Thổ và chiếm lĩnh nhiều vùng thuộc sa mạc Ordos.[128] Sang thế kỷ 8, Hồi giáo bắt đầu lan rộng vào Trung Á và nhanh chóng trở thành tôn giáo chủ đạo của phần lớn dân cư, dù cho Phật giáo vẫn giữ được vai trò quan trọng ở phía đông khu vực.[129] Từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13, Trung Á bị chia cắt giữa một số quốc gia hùng mạnh bao gồm Đế chế Samanid,[130]Seljuk[131] và Khwarazmian. Các nước này sau đó được kế tục bởi người Mông Cổ vào thế kỷ 13.[132] Năm 1370, Timur, một lãnh tụ người Thổ chịu ảnh hưởng từ truyền thống quân sự Mông Cổ, đã chinh phục hầu hết khu vực và lập nên Đế chế Timurid.[133] Tuy đế chế rộng lớn này sụp đổ không lâu sau khi Timur qua đời,[134] các hậu duệ của ông vẫn duy trì quyền kiểm soát tại một vùng lãnh thổ trọng yếu ở Trung Á và Iran.[135] Họ đã dẫn dắt thời kỳ Phục hưng Timurid [en], nổi bật với sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật và kiến trúc..[136]
Ít nhất từ thế kỷ 4, Kitô giáo đã đóng vai trò then chốt trong việc định hình văn hóa, các giá trị và thiết chế của nền văn minh phương Tây, trước hết thông qua Công giáo và sau đó là Kháng Cách.[137] Châu Âu trong Sơ kỳ Trung Cổ được đặc trưng bởi sự suy giảm dân số, quá trình phi đô thị hóa (deurbanization) và làn sóng xâm lược của các bộ tộc man di, tất cả đều bắt đầu từ Hậu kỳ cổ đại.[138] Những tộc người xâm lược này đã dựng lên các vương quốc mới của riêng họ trên tàn tích của Đế chế Tây La Mã.[139] Dẫu có những thay đổi đáng kể trong cấu trúc xã hội và chính trị, nhưng hầu hết vương quốc mới đều duy trì và tiếp thu các thiết chế sẵn có của La Mã.[140] Kitô giáo lan rộng khắp Tây Âu, dẫn đến sự ra đời của nhiều tu viện.[141] Vào thế kỷ 7 và 8, người Frank dưới triều đại Carolingian đã xây dựng một đế chế rộng lớn bao trùm phần lớn Tây Âu.[142] Song đến thế kỷ 9, đế chế này suy yếu và tan rã trước áp lực từ những cuộc xâm lược mới của người Viking, người Magyar và người Ả Rập.[143] Nó về sau bị chia cắt thành Tây Francia và Đông Francia, hai khu vực này lần lượt phát triển thành nước Pháp thời Trung Cổ và Đế chế La Mã Thần thánh (tức nước Đức thời Trung Cổ). Trong thời kỳ Carolingian, các nhà thờ đã phát triển một hệ thống ký âm gọi là neume – đây là nền tảng của hệ thống ký âm hiện đại ngày nay.[144] Song song đó, Kievan Rus' – với thủ đô đặt tại Kiev – đã mở rộng lãnh thổ và trở thành quốc gia lớn nhất châu Âu vào thế kỷ 10. Năm 988, Vladimir Đại đế đã chọn Chính thống giáo Đông phương làm quốc giáo của Kievan Rus'.[145]
Trong Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu sau năm 1000, dân số châu Âu gia tăng nhờ những đổi mới trong công nghệ và nông nghiệp giúp thúc đẩy thương mại phát triển và nâng cao năng suất cây trồng.[146] Việc thiết lập hệ thống phong kiến đã tác động sâu sắc tới cấu trúc xã hội thời Trung Cổ. Hệ thống này bao gồm chế độ trang viên (tổ chức tá điền thành các làng mạc, nơi họ phải nộp tô thuế và thực hiện nghĩa vụ lao động cho giới quý tộc) và chế độ chư hầu (một cấu trúc chính trị mà trong đó các hiệp sĩ và quý tộc cấp thấp phải phục vụ quân sự cho lãnh chúa của mình, đổi lại họ được hưởng quyền thu tô từ đất đai và điền trang).[147] Sau sự tan rã của Đế chế Carolingian, vốn gây ra những ảnh hưởng phân quyền sâu sắc, các vương quốc vương quốc dần trở nên tập trung hóa hơn.[148] Năm 1054, sự kiện Đại Ly Giáo giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính thống giáo Đông phương đã tạo nên những khác biệt văn hóa rõ rệt giữa Tây Âu và Đông Âu.[149] Thập tự chinh là một loạt các cuộc chiến tranh tôn giáo do Kitô hữu phát động nhằm giành lại quyền kiểm soát Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Những cuộc chiến nói trên đã đạt được thành công trong một khoảng thời gian đủ dài để dựng lên một số quốc gia Thập tự chinh tại vùng Levant.[150] Trong giai đoạn này, các thương nhân Ý đã đưa nô lệ đến để làm việc trong các hộ gia đình hoặc trong ngành chế biến đường.[151] Đời sống trí thức được đánh dấu bằng sự phát triển của chủ nghĩa kinh viện và sự ra đời của các trường đại học, trong khi việc xây dựng các nhà thờ và thánh đường theo phong cách Gothic được coi là một trong những thành tựu nghệ thuật nổi bật nhất của thời đại.[152] Thời kỳ Trung Cổ còn chứng kiến quá trình đô thị hóa bền vững đầu tiên tại Bắc và Tây Âu, kéo dài cho đến khi thời kỳ cận đại bắt đầu vào thế kỷ 16.[153]
Năm 1236, người Mông Cổ tràn vào châu Âu và chinh phục Kievan Rus', cũng như tiến hành các cuộc xâm lược ngắn ngủi vào Ba LanvàHungary.[154] Mặc dù Litva hợp tác với người Mông Cổ, song quốc gia này vẫn duy trì được nền độc lập và đã thành lập liên minh cá nhân với Ba Lan vào cuối thế kỷ 14.[155]Hậu kỳ Trung Cổ được ghi dấu bởi những khó khăn và tai họa nghiêm trọng.[156] Nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh đã tàn phá dân số Tây Âu.[157] Đặc biệt, Cái Chết Đen là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại, cướp đi sinh mạng của khoảng 75 đến 200 triệu người trong giai đoạn 1347–1350.[158] Bùng phát từ châu Á, dịch bệnh lây lan đến Địa Trung Hải và Tây Âu vào cuối thập niên 1340,[159] gây ra cái chết của hàng chục triệu người châu Âu chỉ trong vòng 6 năm; ước tính từ một phần tư đến một phần ba dân số lục địa già bị xóa sổ.[160]
Tại vùng Sahel thuộc Tây Phi, Đế chế Ghana được hình thành trong khoảng thời gian từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 8 – trong khi về phía đông, Đế chế Gao nắm quyền kiểm soát khu vực từ thế kỷ 7.[169][170] Việc nhà Almoravid chiếm giữ Aoudaghost (một trung tâm kinh tế quan trọng của vương triều Ghana) đã buộc đế chế Tây Phi này phải cải đạo sang Hồi giáo vào thế kỷ 11.[171] Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã khiến Ghana bị nước chư hầu của mình là Sosso thôn tính vào thế kỷ 13.[172] Sosso cũng không tồn tại được lâu, nhanh chóng bị lật đổ bởi Đế chế Mali. Mali sau đó chinh phục Gao và nắm quyền kiểm soát các tuyến thương mại xuyên Sahara.[173] Ở phía nam Mali, các vương quốc Mossi được thành lập.[174] Trong khi ở phía đông, Đế chế Kanem–Bornu, vốn tồn tại từ thế kỷ 6, đã mở rộng tầm ảnh hưởng của mình lên các vương quốc Hausa.[175] Đến thế kỷ 15, Đế chế Mali dần suy tàn và Đế chế Songhai – với trung tâm quyền lực đặt tại Gao – vươn lên trở thành thế lực thống trị trong khu vực.[176]
Sau khi Đế chế Gupta thất thủ vào năm 550 Công nguyên, Bắc Ấn Độ bị chia cắt thành một mạng lưới các tiểu quốc phức tạp và không ổn định.[190]Những cuộc bành trướng ban đầu của người Hồi giáo mở màn ở phía tây bắc vào năm 711 Công nguyên, khi triều đại Umayyad của người Ả Rập chinh phục phần lớn lãnh thổ nay là Pakistan.[106] Mặc dù bước tiến quân sự của người Ả Rập bị khựng lại tại thời điểm ấy, đạo Hồi vẫn tiếp tục lan rộng khắp Ấn Độ, chủ yếu nhờ vào ảnh hưởng của các thương nhân Ả Rập dọc duyên hải phía tây.[95] Đến thế kỷ 9, ba đế chế hùng mạnh Pratihara, Pala và Rashtrakuta đối đầu nhau trong cuộc chiến tranh giành quyền kiểm soát Bắc Ấn Độ, được biết đến với tên gọi Tranh chấp Tam hùng [en].[191]
Các vương triều trong thời kỳ trung đại ở Nam Ấn Độ bao gồm Chalukya, Hoysala và Chola.[192] Nhờ sự bảo trợ của họ, các lĩnh vực văn học, kiến trúc, điêu khắc và hội họa đều phát triển rực rỡ.[193] Bên cạnh đó, một số quốc gia quan trọng khác cũng trỗi dậy ở Nam Ấn Độ trong giai đoạn này, chẳng hạn như Vương quốc Hồi giáo Bahmani và Đế chế Vijayanagara.[194]
Sau một giai đoạn tương đối chia rẽ, Trung Quốc được tái thống nhất dưới triều đại nhà Tùy vào năm 589.[195] Kế thừa cơ nghiệp của nhà Tùy, triều đại nhà Đường (618–907) đã đưa Trung Quốc bước vào thời kỳ hoàng kim với sự ổn định chính trị và thịnh vượng kinh tế song hành cùng những thành tựu rực rỡ về văn học và nghệ thuật, tiêu biểu như thơ ca của Lý Bạch và Đỗ Phủ.[196][197] Nhà Tùy và nhà Đường đã thiết lập hệ thống khoa cử lâu dài, theo đó các chức vụ hành chính chỉ được giao cho những người vượt qua kỳ thi nghiêm ngặt về tư tưởng Nho giáo và các tác phẩm kinh điển Trung Hoa.[198] Trung Quốc thời Đường còn cạnh tranh với Tây Tạng (618–842) để giành quyền kiểm soát các khu vực thuộc Nội Á.[199] Tuy nhiên, Đường triều dần suy yếu và tan rã. Sau nửa thế kỷ hỗn loạn, nhà Tống đã tái thống nhất phần lớn lãnh thổ Trung Quốc.[200] Áp lực từ các đế chế du mục phương Bắc ngày càng trở nên nghiêm trọng. Đến năm 1127, miền bắc Trung Quốc rơi vào tay người Nữ Chân trong chiến tranh Kim–Tống, và rồi người Mông Cổ chinh phục toàn bộ Trung Quốc vào năm 1279.[201] Sau khoảng một thế kỷ dưới sự cai trị của nhà Nguyên do người Mông Cổ đứng đầu, người Hán tái khẳng định quyền kiểm soát đất nước với sự thành lập của triều đại nhà Minh vào năm 1368.[202]
Tại Nhật Bản, dòng dõi hoàng gia được thiết lập vào khoảng thế kỷ 3 Công nguyên và một nhà nước tập quyền bắt đầu hình thành trong thời kỳ Yamato (k. 300–710).[203] Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản trong giai đoạn này, đi cùng với sự tiếp nhận sâu rộng các yếu tố văn hóa Trung Hoa và Nho giáo.[204]Thời kỳ Nara (710–794) đánh dấu sự xuất hiện của một nền văn học non trẻ, bên cạnh sự phát triển của các tác phẩm nghệ thuật và kiến trúc lấy cảm hứng từ Phật giáo.[205]Thời kỳ Heian (794–1185) đánh dấu đỉnh cao quyền lực của hoàng gia, sau đó là sự trỗi dậy của các gia tộc quân sự và tầng lớp samurai.[206] Cũng trong thời kỳ Heian, Murasaki Shikibu đã sáng tác nên Truyện kể Genji, tác phẩm thường được xem là tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới.[207] Từ năm 1185 đến năm 1868, Nhật Bản chịu sự chi phối của những lãnh chúa địa phương đầy quyền lực (daimyo) và chế độ quân sự do các tướng quân (shogun) lãnh đạo, tiêu biểu là Mạc phủ Ashikaga và Tokugawa.[208] Thiên hoàng tuy vẫn tồn tại nhưng chỉ mang tính biểu tượng và không có quyền lực thực sự.[209] Trong khi đó, quyền lực của tầng lớp thương nhân ngày càng gia tăng.[210] Thời kỳ Tokugawa cũng chứng kiến sự nảy nở của một phong cách nghệ thuật độc đáo và có sức ảnh hưởng lớn mang tên ukiyo-e – đặc trưng là những bức mộc bản họa, ban đầu tập trung mô tả các kỹ nữ nổi tiếng.[211]
Thời trung đại tại Triều Tiên chứng kiến sự kết thúc của kỷ nguyên Tam Quốc trong đó ba vương quốc Goguryeo, Baekje và Silla tranh đoạt quyền bá chủ.[212] Thời kỳ này khép lại khi Silla lần lượt chinh phục Baekje vào năm 660 và Goguryeo vào năm 668,[213] đánh dấu sự khởi đầu của thời đại Nam–Bắc Quốc, trong đó Silla thống nhất cai trị ở phía nam còn Balhae (một nhà nước kế thừa Goguryeo) nắm quyền ở phía bắc.[214] Đến năm 892 Công nguyên, trật tự này sụp đổ, mở ra kỷ nguyên Hậu Tam Quốc. Trong bối cảnh trên, Goguryeo[f] vươn lên mạnh mẽ và thống nhất toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 936.[215] Triều đại Goryeo được thành lập từ đó và cầm quyền cho tới năm 1392, trước khi nhường ngôi cho triều đại Joseon trị vì gần 500 năm về sau.[216]
Chính thể Phù Nam ở Đông Nam Á – hình thành từ thế kỷ 2 Công nguyên – đã bắt đầu suy tàn vào thế kỷ 6 khi các tuyến thương mại của Trung Quốc dịch chuyển khỏi các cảng biển của vùng đất này. Phù Nam sau đó được thay thế bởi Đế chế Khmer vào năm 802 Công nguyên.[221] Kinh đô Angkor của người Khmer là thành phố rộng lớn nhất thế giới trong thời kỳ tiền công nghiệp và là nơi tọa lạc của Angkor Wat, công trình tôn giáo đồ sộ nhất thế giới.[222] Hai vương quốc Sukhothai (giữa thế kỷ 13) và Ayutthaya (1351) của người Thái nổi lên như những thế lực lớn, chịu ảnh hưởng sâu đậm từ nền văn minh Khmer.[223]
Đế chế Tuʻi Tonga được thành lập vào thế kỷ 10 Công nguyên và mở rộng lãnh thổ từ năm 1250 đến năm 1500.[241] Văn hóa, ngôn ngữ và quyền lực của người Tonga lan rộng khắp miền đông Melanesia, Micronesia và miền trung Polynesia trong giai đoạn này.[242] Ảnh hưởng của họ bao trùm các vùng như phía đông 'Uvea, Rotuma, Futuna, Samoa và Niue, cùng với một số hòn đảo và khu vực khác thuộc Micronesia, Vanuatu và New Caledonia.[243] Tại miền bắc nước Úc, các bằng chứng khảo cổ học cho thấy người bản địa Úcthường xuyên giao thương với những người Makassan (Indonesia) chuyên khai thác và buôn bán hải sâm rất lâu trước khi người châu Âu đặt chân tới đây.[244] Nếu như trong các xã hội bản địa Úc, vai trò lãnh đạo được xác lập dựa trên thành tựu cá nhân – thì cấu trúc xã hội của các cộng đồng người Polynesia lại đặc trưng bởi chế độ tù trưởng [en] cha truyền con nối.
Tại Bắc Mỹ, giai đoạn này chứng kiến sự phát triển của nền văn hóa Mississippian ở khu vực ngày nay là Hoa Kỳ vào k. 950 CN,[245] nổi bật với quần thể đô thị rộng lớn ở Cahokia được xây dựng vào thế kỷ 11.[246]Người Pueblo cổ đại (Ancestral Puebloans) và những cộng đồng tiền thân của họ (từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13) đã xây dựng nhiều khu định cư kiên cố rộng lớn, bao gồm các công trình bằng đá vốn được xem là những tòa nhà lớn nhất ở Bắc Mỹ cho tới tận thế kỷ 19.[247]
Tại Nam Mỹ, thế kỷ 15 chứng kiến sự trỗi dậy của người Inca.[101]Đế chế Inca, với thủ đô đặt tại Cusco và có lãnh thổ trải dài khắp dãy Andes, trở thành nền văn minh tiền Columbus rộng lớn nhất.[250] Người Inca nổi tiếng với sự thịnh vượng và trình độ phát triển cao, đặc biệt là hệ thống đường sá ưu việt và kỹ thuật chế tác đá tinh xảo.[251]
Thời kỳ cận đại là giai đoạn nối tiếp sau thời Trung Cổ ở châu Âu, kéo dài đến khoảng năm 1789 hoặc 1800.[h] Một mốc chuyển giao phổ biến từ thời trung đại sang cận đại được xác định trong khoảng từ năm 1450 đến năm 1500, gắn liền với một loạt sự kiện quan trọng như sự thất thủ của Constantinople vào tay Đế chế Ottoman, sự phổ biến của kỹ thuật in ấn cùng với các chuyến thám hiểm của châu Âu đến châu Mỹ và dọc theo bờ biển châu Phi. Bên cạnh đó, bản chất của chiến tranh cũng đã có sự thay đổi khi quy mô và tổ chức của các lực lượng quân sự trên bộ lẫn trên biển ngày càng mở rộng, đi cùng với việc thuốc súng được sử dụng rộng rãi hơn.[253] Thời kỳ cận đại có ý nghĩa đặc biệt vì đây là khởi đầu của quá trình tiền toàn cầu hóa (proto-globalization),[254] sự xuất hiện ngày càng nhiều của các nhà nước quan liêu tập trung[255] và những hình thức sơ khai của chủ nghĩa tư bản.[252] Trong giai đoạn đó, các cường quốc châu Âu bắt đầu tiến hành thực dân hóa trên diện rộng thông qua các đế chế hàng hải: khởi đầu là Đế quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, sau đó là Đế quốc Pháp, Anh và Hà Lan.[256] Nguyên nhân dẫn tới sự trỗi dậy của châu Âu – được gọi là Đại phân kỳ – hiện vẫn là một chủ đề gây tranh luận trong giới sử học.[257]
Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu xuất hiện, trước tiên tại các nước cộng hòa miền bắc nước Ý và một số thành phố cảng ở châu Á.[258] Các quốc gia châu Âu áp dụng chủ nghĩa trọng thương thông qua việc thực thi những chính sách thương mại một chiều nhằm tối đa hóa lợi ích cho mẫu quốc, thường là bằng cách bóc lột các thuộc địa.[259] Bắt đầu từ cuối thế kỷ 15, người Bồ Đào Nha đã thiết lập nhiều trạm mậu dịch [en] trên khắp châu Phi, châu Á và Brazil để buôn bán các mặt hàng như vàng và gia vị, đồng thời tham gia vào hoạt động buôn bán nô lệ.[260] Bước sang thế kỷ 17, các công ty cổ phần khổng lồ được thành lập, tiêu biểu là Công ty Đông Ấn Anh vào năm 1600 (thường được coi là tập đoàn đa quốc gia đầu tiên trên thế giới) và Công ty Đông Ấn Hà Lan vào năm 1602.[261] Cùng thời điểm, tại nhiều khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của châu Âu, chế độ nông nô dần suy tàn và cuối cùng biến mất – trong khi quyền lực của Giáo hội Công giáo cũng bị thu hẹp đáng kể.[262]
Thời đại Khám phá là giai đoạn đầu tiên mà Cựu Thế giới thực hiện các cuộc trao đổi quy mô lớn về văn hóa, vật chất và sinh học với Tân Thế giới. Nó bắt đầu vào cuối thế kỷ 15, khi Bồ Đào Nha và Vương quốc Castile tổ chức những chuyến thám hiểm tiên phong đến châu Mỹ, nơi mà Christopher Columbus lần đầu tiên đặt chân đến vào năm 1492. Quá trình hội nhập toàn cầu tiếp tục diễn ra với việc các cường quốc châu Âu thuộc địa hóa châu Mỹ, khởi nguồn cho Trao đổi Columbus (Columbian exchange) – một sự giao lưu toàn diện giữa hai bán cầu Đông và Tây về thực vật, động vật, lương thực, dân cư (kể cả nô lệ), các bệnh truyền nhiễm và văn hóa.[263] Đây được xem là một trong những sự kiện quy mô toàn cầu quan trọng nhất trong lịch sử, có ảnh hưởng sâu sắc tới sinh thái và nông nghiệp.[264] Đặc biệt, những loại cây trồng mới được các nhà thám hiểm châu Âu mang về từ châu Mỹ vào thế kỷ 16 đã đóng góp đáng kể vào sự gia tăng dân số toàn cầu.[265]
Đại Trung Đông
Đế chế Ottoman nhanh chóng vươn lên bá chủ vùng Trung Đông sau khi chinh phục Constantinople vào năm 1453, đánh dấu sự cáo chung của Đế chế Byzantine.[266] Ba Tư nằm dưới sự cai trị của triều đại Safavid vào năm 1501,[267] kế tiếp là Afsharid vào năm 1736, Zand vào năm 1751 và Qajar vào năm 1794.[268] Nhà Safavid đã chọnHồi giáo Shia làm quốc giáo của Ba Tư, qua đó tạo cho quốc gia này một bản sắc riêng biệt so với các nước láng giềng theo Hồi giáo Sunni.[269] Cùng với đế chế Mughal ở Ấn Độ, Ottoman và Safavid được gọi là "các đế chế thuốc súng" nhờ sự tiên phong trong việc sử dụng hỏa khí.[270] Trong suốt thế kỷ 16, Ottoman đã chinh phục toàn bộ Bắc Phi – ngoại trừ Morocco – nơi nằm dưới sự cai trị của triều đại Saadi đương thời, rồi sau đó là triều đại Alawi vào thế kỷ 17.[271][272][273] Vào cuối thế kỷ 18, Đế chế Nga bắt đầu cuộc chinh phạt vùng Caucasus.[274] Trong khi đó, người Uzbek thay thế người Timurid trở thành thế lực thống trị ở Trung Á.[275]
Thời kỳ cận đại ở châu Âu là một giai đoạn sôi động về tư duy và trí tuệ. Phong trào Phục hưng – được ví như sự "tái sinh" của văn hóa cổ điển, khởi nguồn tại Ý vào thế kỷ 14 và kéo dài đến thế kỷ 16[i] – bao gồm việc tái khám phá những thành tựu văn hóa, khoa học và công nghệ của thế giới cổ điển, cũng như đánh dấu sự trỗi dậy về kinh tế và xã hội của châu Âu.[277] Giai đoạn này cũng nổi bật với những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực nghệ thuật và văn học.[278] Một số kiệt tác tiêu biểu của thời cận đại bao gồm thơ ca của của Petrarch, Decameron của Giovanni Boccaccio, các bức họa và tác phẩm điêu khắc của Leonardo da Vinci và Albrecht Dürer (Dürer là một biểu tượng của Phục hưng phương Bắc).[278] Sau Phục hưng là Cải cách tôn giáo, một phong trào thần học và xã hội chống lại giáo quyền do Martin Luther khởi xướng tại Đức, dẫn tới sự ra đời của Kitô giáo Kháng Cách.[279]
Thời kỳ Phục hưng đã khơi dậy một nền văn hóa ham học hỏi, từ đó dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn[280] và Cách mạng Khoa học – một nỗ lực nhằm khám phá thế giới tự nhiên thông qua quan sát trực tiếp và thực nghiệm.[281] Thành công của các phương pháp khoa học mới đã truyền cảm hứng cho những nỗ lực áp dụng chúng vào nhiều vấn đề chính trị và xã hội, mở ra Thời kỳ Khai sáng do các nhà tư tưởng như John Locke và Immanuel Kant dẫn dắt.[282] Sự phát triển ấy đi cùng với quá trình thế tục hóa, biểu lộ qua sự suy giảm dần ảnh hưởng của các niềm tin và thẩm quyền tôn giáo trong cả đời sống công cộng lẫn cá nhân.[283] Phát minh về kỹ thuật in chữ rời [en] của Johannes Gutenberg vào năm 1440[j] đã góp phần lan tỏa tư tưởng của các phong trào trí thức mới mẻ này.[285]
Ngoài những biến đổi do chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân sơ khai mang lại, người châu Âu cận đại còn chứng kiến sự gia tăng quyền lực của nhà nước.[286] Các nhà quân chủ chuyên chế tại Pháp, Nga, vùng đất thuộc nhà Habsburg và Phổ đã xây dựng nên những quốc gia tập trung quyền lực mạnh mẽ với quân đội hùng hậu và bộ máy quan liêu hiệu quả, tất cả đều nằm dưới sự kiểm soát của nhà vua.[287] Tại Nga, Ivan Bạo chúa đăng quang vào năm 1547 – trở thành vị Sa hoàng đầu tiên của nước Nga. Bằng việc sáp nhập các hãn quốc Turk ở phía đông, ông đã biến Nga thành một cường quốc khu vực, dần dần soán ngôiKhối thịnh vượng chung Ba Lan–Litva để trở thành một thế lực lớn ở Đông Âu.[288] Các nước Tây Âu – trong quá trình mở rộng lãnh thổ một cách mạnh mẽ nhờ những tiến bộ công nghệ và các cuộc chinh phục thuộc địa – đã liên tục cạnh tranh với nhau cả về kinh tế lẫn quân sự, duy trì tình trạng chiến tranh gần như triền miên.[289] Những cuộc xung đột đáng chú ý bao gồm Chiến tranh Ba Mươi Năm, Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, Chiến tranh Bảy Năm và Chiến tranh Cách mạng Pháp.[290]Cách mạng Pháp (bắt đầu từ năm 1789) đã đặt nền móng cho nền dân chủ tự do thông qua việc lật đổ chế độ quân chủ. Nó dẫn đến sự trỗi dậy của Napoléon Bonaparte và Các cuộc chiến tranh Napoléon vào đầu thế kỷ 19.[291]
Tại lưu vực sông Congo, Kongo tiến hành ba cuộc chiến chống lại người Bồ Đào Nha vốn đã bắt đầu công cuộc thực dân hóa Angola. Cuộc xung đột này kết thúc với việc Ndongo bị chinh phục vào thế kỷ 17.[300] Xa hơn về phía đông, Đế chế Lunda nổi lên và trở thành thế lực thống trị trong khu vực. Song, đế chế ấy đã sụp đổ trước sự xâm lấn của người Chokwe vào thế kỷ 19.[301] Ở phía bắc vùng Hồ Lớn, nhiều vương quốc hùng mạnh đã hình thành như Bunyoro-Kitara, Buganda và Rwanda, v.v..[302]
Kilwa bị người Bồ Đào Nha chinh phạt vào thế kỷ 16 khi họ bắt đầu thực dân hóa Mozambique. Tuy nhiên, người Bồ Đào Nha sau đó đã bị đánh bại bởi Đế chế Oman và Oman giành quyền kiểm soát bờ biển Swahili [en].[303] Tại Madagascar, từ thế kỷ 16 trở đi, các vương quốc Imerina, Betsileo và Sakalava lần lượt trỗi dậy;[304] trong đó riêng Imerina đã chinh phục hầu hết hòn đảo vào thế kỷ 19.[305] Ở lưu vực sông Zambezi, Đế chế Mutapa suy yếu và được kế tục bởi Rozvi.[306] Phía bắc của khu vực này, quanh hồ Malawi, là sự hiện diện của Maravi.[307] Sau đó, Mthwakazi đã nổi lên thay thế Rozvi.[308] Xuống phía nam, người Hà Lan bắt đầu quá trình thực dân hóa Nam Phi từ thế kỷ 16, nhưng sau đó đã để mất vùng đất nói trên vào tay người Anh.[309] Sang thế kỷ 19, những người định cư Hà Lan đã thiết lập nhiều nước cộng hòa Boer – trong khi làn sóng Mfecane gây ra sự tàn phá lớn trong khu vực, cũng như mở đường cho sự hình thành của nhiều vương quốc châu Phi mới.[310]
Nam Á
Tại tiểu lục địa Ấn Độ, Đế chế Mughal được Babur thành lập vào năm 1526 và tồn tại trong suốt hai thế kỷ.[311] Khởi đầu từ vùng tây bắc, đế chế này dần mở rộng lãnh thổ và đặt gần như toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ dưới sự cai trị của người Hồi giáo vào cuối thế kỷ 17[312] – ngoại trừ các tỉnh cực nam vẫn duy trì được nền độc lập.[313] Nhằm chống lại sự cai trị của những nhà cầm quyền Hồi giáo, Đế chế Maratha theo Ấn Độ giáo được Shivaji sáng lập tại bờ biển phía tây vào năm 1674. Qua nhiều thập kỷ, Maratha từng bước chiếm lại lãnh thổ từ tay Mughal, đặc biệt trong Các cuộc chiến Mughal–Maratha [en] (1680–1707).[314]
Năm 1644, nhà Minh được thay thế bởi nhà Thanh,[317] triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc, cầm quyền cho tới năm 1912.[318] Nhật Bản trải qua thời kỳ Azuchi–Momoyama (1568–1600), tiếp đó là thời kỳ Edo (1600–1868).[319] Tại Triều Tiên, nhà Joseon (1392–1910) cai trị trong suốt thời kỳ này, thành công đẩy lùi các cuộc xâm lược từ Nhật Bản và Trung Quốc trong thế kỷ 16 và 17.[320] Sự mở rộng giao thương hàng hải với châu Âu đã tác động đáng kể đến Trung Quốc và Nhật Bản trong thời cận đại, đặc biệt thông qua sự hiện diện của người Bồ Đào Nha tại Ma Cao và người Hà Lan tại Nagasaki.[321] Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Nhật Bản sau đó đều thực thi các chính sách bế quan tỏa cảng[k] nhằm loại bỏ những ảnh hưởng ngoại lai.[322]
Nhiều cường quốc châu Âu đã tiến hành thuộc địa hóa châu Mỹ, dẫn tới việc lấn át các cộng đồng dân cư bản địa và chinh phục những nền văn minh tiên tiến như Aztec và Inca.[330]Các bệnh dịch do người châu Âu mang đến [en] đã tàn phá nghiêm trọng các xã hội châu Mỹ, cướp đi sinh mạng của 60–90 triệu người trước năm 1600 và làm suy giảm dân số từ 90–95%.[331] Trong một số trường hợp, chính sách thuộc địa còn bao hàm cả hành vi diệt chủng có chủ ý nhắm vào các dân tộc bản địa [en].[332] Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh và Pháp đều tuyên bố chủ quyền trên những vùng lãnh thổ rộng lớn và triển khai các cuộc định cư quy mô lớn, bao gồm cả việc đưa số lượng lớn nô lệ châu Phi đến đây.[333] Một hệ quả của hoạt động buôn bán nô lệ là sự giao thoa văn hóa, qua đó nhiều truyền thống châu Phi đã du nhập vào châu Mỹ như ẩm thực, âm nhạc và vũ điệu.[334][m] Bồ Đào Nha tuyên bố chủ quyền đối với Brazil, trong khi Tây Ban Nha kiểm soát phần còn lại của Nam Mỹ, Trung Bộ châu Mỹ và phía nam Bắc Mỹ.[335] Người Tây Ban Nha đã khai thác cũng như xuất khẩu một lượng lớn vàng và bạc, dẫn đến một đợt bùng nổ lạm phát được gọi là Cách mạng giá cả vào thế kỷ 16 và 17 tại Tây Âu.[336]
Thế kỷ 19 kéo dài thường được xem là bắt đầu từ Cách mạng Pháp năm 1789[n] và kéo dài cho đến khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ vào năm 1914.[345] Thời kỳ này chứng kiến sự lan rộng trên toàn cầu của Cách mạng Công nghiệp, được đánh giá là cuộc chuyển biến sâu sắc nhất của nền kinh tế thế giới kể từ Cách mạng Đồ đá mới.[346] Khởi phát ở Vương quốc Anh vào khoảng năm 1770, Cách mạng Công nghiệp đã áp dụng các phương thức sản xuất mới—nhà máy, sản xuất hàng loạt và cơ giới hóa—nhằm sản xuất nhiều loại hàng hóa đa dạng với tốc độ nhanh hơn và sử dụng ít nhân công hơn so với trước đây.[347]
Công nghiệp hóa đã nâng cao mức sống toàn cầu nhưng cũng gây ra những xáo trộn xã hội do mâu thuẫn nảy sinh giữa chủ nhà máy và người lao động về vấn đề tiền lương và điều kiện làm việc.[348] Song hành với quá trình công nghiệp hóa là sự xuất hiện của toàn cầu hóa hiện đại, biểu hiện qua sự gia tăng kết nối giữa các khu vực trên thế giới trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa.[349] Toàn cầu hóa hình thành từ đầu thế kỷ 19 và được thúc đẩy bởi những tiến bộ trong công nghệ vận tải như đường sắt và tàu hơi nước.[350]
Các đế quốc châu Âu dần mất đi nhiều vùng lãnh thổ tại Mỹ Latinh, nơi mà đã giành được độc lập vào thập niên 1820 thông qua các chiến dịch quân sự,[351] song họ lại mở rộng lãnh thổ sang những khu vực khác nhờ vào lợi thế vượt trội mà nền kinh tế công nghiệp mang lại so với phần còn lại của thế giới.[352] Vương quốc Anh giành quyền kiểm soát tiểu lục địa Ấn Độ, Miến Điện, Mã Lai, Bắc Borneo, Hồng Kông và Aden; Pháp chiếm lĩnh Đông Dương; trong khi Hà Lan củng cố sự cai trị tại Indonesia.[353] Bên cạnh đó, Vương quốc Anh cũng thực dân hóa Canada, Australia, New Zealand và Nam Phi – thu hút số lượng lớn người Anh di cư đến các vùng đất nói trên.[354]
Nga tiến hành thuộc địa hóa các vùng đất rộng lớn ở Siberia, vốn trước đây là những khu vực tiền nông nghiệp.[355] Hoa Kỳ hoàn tất quá trình mở rộng lãnh thổ về phía tây, thiết lập quyền kiểm soát từ bờ Đại Tây Dương đến bờ Thái Bình Dương.[356]
Tại châu Âu, sự cạnh tranh về kinh tế lẫn quân sự đã thúc đẩy quá trình hình thành và củng cố các quốc gia dân tộc, đồng thời những cộng đồng văn hóa dân tộc khác cũng bắt đầu tự xác định mình là các quốc gia riêng biệt với khát vọng về sự tự chủ cả về văn hóa và chính trị.[360]Chủ nghĩa dân tộc từ đó đã trở thành một yếu tố quan trọng đối với các dân tộc trên khắp thế giới trong thế kỷ 19 và 20[361] Trong làn sóng dân chủ đầu tiên diễn ra từ năm 1828 đến năm 1926, các thể chế dân chủ đã được kiến lập tại 33 quốc gia trên toàn thế giới.[362]
Phần lớn thế giới đã bãi bỏ chế độ nô lệ và chế độ nông nô trong thế kỷ 19.[363] Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 và kéo dài suốt thế kỷ 20,[364] phong trào đấu tranh đòi quyền bầu cử của phụ nữ ở nhiều quốc gia đã thành công trong việc mang lại quyền bỏ phiếu cho phái nữ,[365] cũng như họ bắt đầu có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với giáo dục và các ngành nghề vượt ra ngoài công việc nội trợ.[366]
Trước sự lấn át của các cường quốc châu Âu, một số quốc gia đã tiến hành những chương trình công nghiệp hóa và cải cách chính trị theo mô hình phương Tây.[367]Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản đã dẫn đến việc thiết lập một đế quốc thuộc địa, trong khi các cải cách tanzimat ở Đế quốc Ottoman lại không chặn được đà suy thoái của đế chế này.[368] Trung Quốc đã đạt được một số thành công với Phong trào Tự cường [en] nhưng đã bị tàn phá nặng nề bởi cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc – cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, cướp đi sinh mạng của khoảng 20–30 triệu người trong giai đoạn từ năm 1850 đến năm 1864.[369]
Đến cuối thế kỷ 19, Hoa Kỳ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.[370] Trong Cách mạng Công nghiệp lần thứ hai, những tiến bộ công nghệ mới liên quan đến năng lượng điện, động cơ đốt trong và sản xuất dây chuyền lắp ráp đã giúp gia tăng đáng kể năng suất lao động.[371] Các đổi mới về công nghệ cũng mở ra những hướng đi mới cho việc biểu đạt nghệ thuật thông qua các phương tiện như nhiếp ảnh, ghi âm và điện ảnh.[372]
Thế kỷ 20 mở đầu với việc châu Âu đạt đến đỉnh cao của sự giàu có và quyền lực.[375] Phần lớn thế giới hoặc nằm dưới sự cai trị thuộc địa trực tiếp của châu Âu hoặc chịu ảnh hưởng gián tiếp từ các quốc gia bị Âu hóa sâu sắc như Hoa Kỳ và Nhật Bản.[376] Tuy nhiên, khi thế kỷ 20 tiếp diễn, hệ thống toàn cầu do các cường quốc đối địch chi phối đã phải đối mặt với những áp lực nặng nề và cuối cùng được thay thế bởi một cấu trúc linh hoạt hơn gồm các quốc gia dân tộc độc lập.[377]
Sự chuyển đổi nói trên được thúc đẩy bởi các cuộc chiến tranh có quy mô và mức độ tàn phá chưa từng có. Chiến tranh thế giới thứ nhất là một cuộc xung đột toàn cầu diễn ra từ năm 1914 đến năm 1918 giữa phe Hiệp ước do Pháp, Nga và Vương quốc Anh lãnh đạo với phe Liên minh Trung tâm do Đức, Áo-Hung, Đế chế Ottoman và Bulgaria lãnh đạo. Cuộc chiến đã cướp đi sinh mạng của khoảng 10 đến 22,5 triệu người và đánh dấu sự sụp đổ của bốn đế chế: Áo-Hung, Đức, Ottoman và Nga.[378] Việc áp dụng các công nghệ công nghiệp tiên tiến trong chiến tranh đã khiến những chiến thuật quân sự truyền thống trở nên lỗi thời.[379]
Những mâu thuẫn quốc gia dai dẳng, vốn trở nên trầm trọng hơn bởi cuộc khủng hoảng kinh tế trong thời kỳ Đại khủng hoảng, đã góp phần châm ngòi cho Chiến tranh thế giới thứ hai.[387] Trong cuộc chiến đó, phần lớn các quốc gia trên thế giới – bao gồm tất cả các cường quốc – đã tham gia vào hai liên minh quân sự đối lập: phe Đồng minh và phe Trục. Các cường quốc chủ chốt của phe Trục gồm Đức, Nhật Bản và Ý;[388] trong khi "Tứ cường" của phe Đồng minh gồm Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Hoa Dân Quốc.[389]
Chính phủ theo chủ nghĩa quân phiệt của Đức và Nhật Bản đã theo đuổi chính sách bành trướngđế quốc nhưng cuối cùng phải gánh chịu thất bại. Trong quá trình ấy, Đức tiến hành cuộc diệt chủngHolocaust, cướp đi sinh mạng của 6 triệu người Do Thái cùng hàng triệu người không phải Do Thái trên khắp các vùng lãnh thổ do Đức chiếm đóng ở châu Âu.[390] Tương tự, Nhật Bản cũng gây ra cái chết cho hàng triệu người Trung Quốc.[391] Thế chiến thứ hai còn đánh dấu lần đầu tiên vũ khí hạt nhân được sử dụng, mang đến sự tàn phá chưa từng có và cuối cùng dẫn tới việc Nhật Bản đầu hàng.[392] Ước tính tổng số người thiệt mạng trong cuộc chiến dao động từ 55 đến 80 triệu người.[393]
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945, Liên Hợp Quốc được thành lập với hy vọng ngăn chặn các cuộc chiến tranh trong tương lai,[394] tương tự như cách Hội Quốc Liên được hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.[395] Liên Hợp Quốc đã đóng vai trò tiên phong trong phong trào nhân quyền – và vào năm 1948, tổ chức này thông qua Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền.[396] Đồng thời, một số quốc gia châu Âu đã hợp tác thành lập một tổ chức mà về sau phát triển thành cộng đồng kinh tế và chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viên gọi là Liên minh châu Âu.[397]
Chiến tranh thế giới thứ hai đã mở đường cho sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản vào Đông Âu, Trung Âu, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Bắc Việt Nam và Cuba.[398] Nhằm ngăn cản làn sóng đỏ, Hoa Kỳ đã thiết lập một mạng lưới liên minh toàn cầu.[399] Liên minh lớn nhất trong số đó là NATO, được thành lập vào năm 1949 và dần phát triển lên tới 32 quốc gia thành viên.[400] Để đáp trả, vào năm 1955, Liên Xô cùng các đồng minh Đông Âu đã thành lập Hiệp ước Warsaw – một liên minh phòng thủ chung.[401]
Sau Đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ và Liên Xô vươn lên trở thành hai siêu cường toàn cầu.[402] Nhưng cả hai quốc gia đều mang trong mình những nghi kỵ và lo ngại sâu sắc về sự bành trướng hệ thống chính trị-kinh tế của nhau trên phạm vi toàn thế giới: chủ nghĩa tư bản từ phía Hoa Kỳ và chủ nghĩa cộng sản từ phía Liên Xô. Chính sự bất tín này đã châm ngòi cho Chiến tranh Lạnh, một cuộc đối đầu và chạy đua vũ trang kéo dài 45 năm giữa hai nước và các đồng minh của họ.[403]
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, việc chuẩn bị nhằm ngăn chặn hoặc đối phó với nguy cơ Chiến tranh thế giới thứ ba đã đẩy nhanh sự phát triển của các công nghệ vốn đã được thai nghén từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng chỉ được hiện thực hóa do nhu cầu cấp bách của cuộc chiến ý thức hệ này như máy bay phản lực,[408]tên lửa,[409] và máy tính.[410] Trong nhiều thập kỷ sau Thế chiến thứ hai, chính những tiến bộ nói trên đã mang lại các thành tựu vượt bậc bao gồm du lịch bằng máy bay phản lực;[408]vệ tinh nhân tạo với vô vàn ứng dụng,[411] nổi bật là GPS;[412] và Internet,[411] vốn trở thành một phương thức giao tiếp phổ biến từ những năm 1990.[413] Những phát minh này đã cách mạng hóa cách con người di chuyển, truyền tải ý tưởng và trao đổi thông tin.[414]
Các cải tiến kỹ thuật này đã mang lại những ảnh hưởng sâu rộng.[423] Trong thế kỷ 20, dân số thế giới đã tăng gấp bốn lần (đạt mức sáu tỷ người), trong khi tổng sản lượng kinh tế toàn cầu tăng gấp 20 lần.[424] Đến cuối thế kỷ 20, tốc độ gia tăng dân số bắt đầu chững lại, một phần nhờ vào nhận thức ngày càng cao về kế hoạch hóa gia đình và khả năng tiếp cận các biện pháp tránh thai tốt hơn.[425] Một số khu vực trên thế giới hiện có tỷ lệ sinh dưới mức thay thế [en].[426]
Các biện pháp y tế công cộng cùng những tiến bộ vượt bậc trong y khoa đã góp phần nâng cao đáng kể tuổi thọ trung bình toàn cầu, từ khoảng 31 tuổi vào năm 1900 lên hơn 66 tuổi vào năm 2000.[427][p] Vào năm 1820, 75% dân số thế giới sống với mức thu nhập dưới một đô la mỗi ngày, song tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn khoảng 20% vào năm 2001.[429] Cùng lúc đó, bất bình đẳng kinh tế lại gia tăng ở cả trong nội bộ từng quốc gia và giữa nước giàu với nước nghèo.[430] Tầm quan trọng của giáo dục công lập đã bắt đầu được nhấn mạnh từ thế kỷ 18 và 19[q], nhưng mãi đến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 thì hầu hết trẻ em trên toàn thế giới mới được hưởng nền giáo dục bắt buộc và miễn phí.[432][r]
Tại Trung Quốc, chính quyền Mao Trạch Đông đã triển khai các chính sách công nghiệp hóa và tập thể hóa trong khuôn khổ chiến dịch Đại nhảy vọt (1958–1962), dẫn đến nạn đói lớn (1959–1961) khiến 30–40 triệu người thiệt mạng.[434] Sau khi những chính sách trên bị bãi bỏ, Trung Quốc bước vào giai đoạn tự do hóa kinh tế và tăng trưởng nhanh chóng, với nền kinh tế tăng trưởng 6,6% mỗi năm từ 1978 đến 2003.[435]
Trong nhiều thập kỷ sau chiến tranh, quá trình phi thực dân hóa đã giúp những thuộc địa của các đế quốc châu Âu ở châu Phi, châu Á và châu Đại Dương giành được độc lập chính thức.[436] Tuy vậy, các quốc gia hậu thuộc địa tại châu Phi gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế, do phải đối mặt với những rào cản mang tính cấu trúc như sự phụ thuộc vào xuất khẩu àng hóa cơ bản thay vì hàng hóa chế biến.[437] Châu Phi hạ Sahara là khu vực chịu tác động nặng nề nhất bởi đại dịch HIV/AIDS vào cuối thế kỷ 20.[438] Bên cạnh đó, khu vực này còn phải hứng chịu mức độ bạo lực nghiêm trọng, điển hình là cuộc Chiến tranh Congo lần thứ hai (1998–2003), được xem là cuộc xung đột đẫm máu nhất kể từ Thế chiến thứ hai.[439]
Đầu thế kỷ 21 chứng kiến sự gia tăng của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế,[443] mang tới cả lợi ích lẫn rủi ro cho các nền kinh tế liên kết, mà cuộc Đại suy thoái vào cuối những năm 2000 và đầu những năm 2010 là minh chứng điển hình.[444] Công nghệ truyền thông phát triển mạnh mẽ, với sự phổ biến rộng rãi trên toàn cầu của điện thoại thông minh và mạng xã hội vào giữa thập niên 2010. Đến đầu thập niên 2020, các hệ thống trí tuệ nhân tạo đã phát triển đến mức vượt trội hơn con người trong nhiều tác vụ cụ thể.[445]
Ảnh hưởng của tôn giáo tiếp tục suy giảm ở nhiều quốc gia phương Tây, trong khi một số khu vực thuộc thế giới Hồi giáo chứng kiến sự trỗi dậy của các phong trào toàn thống.[446] Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã gây ra sự gián đoạn lớn đối với thương mại toàn cầu, làm suy thoái nền kinh tế thế giới và thúc đẩy những thay đổi sâu sắc trong các quan niệm văn hóa.[447]
Việc nghiên cứu lịch sử loài người đã có một truyền thống lâu đời, với những tiền đề sơ khai được hình thành từ thời cổ đại khi con người cố gắng tạo ra những ghi chép toàn diện về lịch sử thế giới.[s] Phần lớn các nghiên cứu trước thế kỷ 20 đều tập trung vào lịch sử của từng cộng đồng và xã hội riêng lẻ sau thời kỳ tiền sử. Tuy nhiên, điều ấy đã thay đổi vào cuối thế kỷ 20 khi nỗ lực của các nhà nghiên cứu nhằm hợp nhất những câu chuyện đa dạng này vào một bối cảnh chung, truy nguyên nguồn gốc từ sự xuất hiện của những con người đầu tiên – trở thành một chủ đề nghiên cứu trọng tâm.[451] Sự chuyển biến trên không chỉ mở rộng góc nhìn lịch sử mà còn đặt ra những thách thức đối với chủ nghĩa trọng Âu và quan điểm thiên lệch phương Tây, vốn trước đây chi phối mạnh mẽ nền sử học hàn lâm.[452]
Giống như trong các ngành sử học khác, phương pháp luận phân tích các nguồn tư liệu văn bản để xây dựng những tường thuật và cách diễn giải về các sự kiện trong quá khứ đã đóng vai trò then chốt trong việc nghiên cứu lịch sử nhân loại. Song phạm vi bao quát của chủ đề này đặt ra một thách thức đặc thù: làm thế nào để tổng hợp một câu chuyện vừa mạch lạc vừa toàn diện, trải dài qua nhiều nền văn hóa, khu vực và thời kỳ khác nhau, đồng thời vẫn phản ánh được những quan điểm đa chiều của từng cá nhân. Điều đó được thể hiện rõ qua cách tiếp cận liên ngành, kết hợp các tri thức từ nhiều lĩnh vực thuộc khoa học nhân văn và xã hội, sinh học và khoa học vật lý – chẳng hạn như các ngành lịch sử khác, khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, di truyền học, cổ sinh vật học và địa chất học. Cách tiếp cận liên ngành nói trên đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử nhân loại trước khi chữ viết ra đời.[453]
Phân kỳ lịch sử
Để cung cấp một cái nhìn tổng quan dễ tiếp cận, các nhà sử học thường chia lịch sử loài người thành các giai đoạn khác nhau, được sắp xếp dựa trên những chủ đề, sự kiện hoặc bước phát triển chính yếu đã định hình các các xã hội loài người theo dòng thời gian. Số lượng thời kỳ và khung thời gian của chúng phụ thuộc vào những chủ đề được lựa chọn và giai đoạn chuyển tiếp giữa các thời kỳ thường mang tính linh hoạt hơn so với những gì mà các sơ đồ phân kỳ truyền thống hay thể hiện.[454]
Một cách phân kỳ truyền thống có tầm ảnh hưởng sâu sắc trong giới học thuật châu Âu là sự phân chia lịch sử thành ba thời kỳ cổ đại, trung đại và hiện đại[455] được sắp xếp dựa trên các sự kiện lịch sử quan trọng chịu trách nhiệm cho những biến đổi to lớn trong cấu trúc chính trị, kinh tế và văn hóa để đánh dấu sự chuyển giao giữa các thời kỳ: trước tiên là sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã và sau đó là sự khởi đầu của thời kỳ Phục hưng.[456] Một cách phân kỳ khác chia lịch sử nhân loại thành ba giai đoạn dựa trên cách con người tương tác với thiên nhiên nhàm mục đích sản xuất hàng hóa. Sự chuyển đổi đầu tiên xảy ra khi nông nghiệp và chăn nuôi thay thế săn bắt hái lượm làm phương thức sản xuất lương thực chính. Cách mạng Công nghiệp được xem là dấu mốc cho sự chuyển đổi thứ hai. Một cách tiếp cận khác sử dụng mối quan hệ giữa các xã hội để phân chia lịch sử thế giới thành ba giai đoạn: sự thống trị của Trung Đông trước năm 500 TCN, sự cân bằng văn hóa giữa những nền văn minh Á-Âu cho đến năm 1500 CN và sự thống trị của phương Tây sau đó.[457] Việc phát minh ra chữ viết thường được sử dụng để phân định thời tiền sử và thời cổ đại, trong khi một cách phân chia khác dựa trên loại công cụ được sử dụng trong các thời kỳ Đồ đá, Đồ đồng và Đồ sắt.[458] Các nhà sử học tập trung vào tôn giáo và văn hóa xác định Thời kỳ Trục tâm là một bước ngoặt quan trọng đã đặt nền tảng tinh thần và triết học cho nhiều nền văn minh lớn trên thế giới. Một số sử gia còn kết hợp nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra một cách phân kỳ lịch sử tinh tế và toàn diện hơn.[459]
Tham khảo
Ghi chú
^Dẫu được coi là thời điểm thành lập theo truyền thuyết của nhà Hạ, song niên đại này tới nay vẫn chưa có bằng chứng khảo cổ học nào xác thực.[53] Văn minh Trung Hoa khởi nguồn từ các nền văn hóa tiền thân là Ngưỡng Thiều và Long Sơn (4000–2000 TCN),[54] nhưng nhà Thương (1750 TCN) mới là triều đại đầu tiên được xác minh qua bằng chứng khảo cổ học.[55]
^Nhiều hình thức tiền chữ viết [en] đã tồn tại từ trước, nhưng chúng vẫn chưa cấu thành một hệ thống chữ viết hoàn chỉnh.[69]
^Goguryeo khi ấy được gọi là Taebong và sau này được đổi tên thành Goryeo.
^Họ vượt đại dương trên những chiếc thuyền hai thân dài tới 37 mét (121 ft), mỗi chiếc có khả năng chở đến 50 người cùng với gia súc của họ.[239]
^Niên đại của thời kỳ cận đại có sự khác biệt tùy thuộc vào lĩnh vực lịch sử được nghiên cứu: trong các nghiên cứu văn học, nó thường được giới hạn từ khoảng năm 1500 đến năm 1700 – trong khi một số nhà sử học đại cương lại mở rộng khung thời gian từ năm 1300 đến năm 1800.[252]
^Một số học giả xác định niên đại của thời kỳ này muộn hơn, vào khoảng thế kỷ 15 và 16.[276]
^Người Trung Quốc đã phát minh ra kỹ thuật in chữ rời từ nhiều thế kỷ trước, nhưng nó lại phù hợp hơn với hệ thống chữ cái của các ngôn ngữ châu Âu.[284]
^Chúng được gọi là haijin (hải cấm) ở Trung Quốc và sakoku ở Nhật Bản.
^Magellan qua đời vào năm 1521. Chuyến hải trình sau đó được hoàn thành vào năm 1522 bởi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Juan Sebastián Elcano.[326]
^Tại Brazil, ảnh hưởng này đã dẫn đến sự hình thành và phát triển của Capoeira.[334]
^Một số nhà sử học sử dụng cách phân kỳ khác, cho rằng giai đoạn này bắt đầu sớm nhất từ năm 1750[343] hoặc muộn nhất là vào năm 1800.[344]
^Nền văn minh Aztec là một ngoại lệ, khi đã xác lập hệ thống giáo dục chính quy bắt buộc cho trẻ em từ sớm (vào thế kỷ 14).[431]
^Theo một ước tính, khoảng 90% dân số toàn cầu trong độ tuổi từ 15 đến 64 không được đi học vào năm 1870. Con số này đã giảm xuống chỉ còn 10% vào năm 2010.[433]
^Một số sử gia sử dụng các thuật ngữ lịch sử thế giới (world history) và lịch sử toàn cầu (global history) để chỉ tất cả những nỗ lực này, trong khi một số người khác lại hiểu hai thuật ngữ này theo nghĩa hẹp hơn, coi chúng chỉ là một trong số nhiều cách tiếp cận riêng biệt cạnh tranh lẫn nhau nhằm nghiên cứu sự phát triển của thế giới trên quy mô toàn cầu.[450]
Chú thích nguồn
^Chen, F.C. & Li, W.H. (2001). "Genomic divergences between humans and other hominoids and the effective population size of the common ancestor of humans and chimpanzees". Am J Hum Genet 68 (2): 444–456. doi:10.1086/318206. PMC 1235277. PMID 11170892
^"Human Evolution by The Smithsonian Institution's Human Origins Program". Human Origins Initiative. Smithsonian Institution. Truy cập 2010-08-30.[dead link]
^Stearns, Peter N.; William L. Langer (2001-09-24). The Encyclopedia of World History: Ancient, Medieval, and Modern, Chronologically Arranged. Houghton Mifflin Company. ISBN 0-395-65237-5.
^Chandler, T. Four Thousand Years of Urban Growth: An Historical Census. Lewiston, NY: Edwin Mellen Press, 1987.
^Modelski, G. World Cities: –3000 to 2000. Washington, DC: FAROS 2000, 2003.
^The very word "civilization" comes from the Latin civilis, meaning "civil," related to civis, meaning "citizen," and civitas, meaning "city" or "city-state."
^Ascalone, Enrico. Mesopotamia: Assyrians, Sumerians, Babylonians (Dictionaries of Civilizations; 1). Berkeley: University of California Press, 2007 (paperback, ISBN 0-520-25266-7).
^Lloyd, Seton. The Archaeology of Mesopotamia: From the Old Stone Age to the Persian Conquest.
^Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Grimal, Nicolas 1992
^Allchin, Bridget (1997). Origins of a Civilization: The Prehistory and Early Archaeology of South Asia. New York: Viking.
^Allchin, Raymond (ed.) (1995). The Archaeology of Early Historic South Asia: The Emergence of Cities and States. New York: Cambridge University Press.
^"The Sun God Ra and Ancient Egypt". Solarnavigator.net. Truy cập 2009-04-18.
^"The Sun God and the Wind Deity at Kizil," by Tianshu Zhu, in Transoxiana Webfestschrift Series I, Webfestschrift Marshak: Ēran ud Anērān, 2003.
^Marija Gimbutas. The Language of the Goddess, Harpercollins, 1989, ISBN 0-06-250356-1.
^Turner, Patricia, and Charles Russell Coulter, Dictionary of Ancient Deities, New York, Oxford University Press, 2001.
^Allen, James (2007). The Ancient Egyptian Pyramid Texts. Atlanta, Ga.: Scholars Press. ISBN 1-58983-182-9.
^Patrick Symmes, "History in the Remaking: a temple complex in Turkey that predates even the Pyramids is rewriting the story of human evolution," Newsweek, ngày 1 tháng 3 năm 2010, pp. 46–48.
^"Ubaid Civilization". Ancientneareast.tripod.com. Diakses ngày 18 tháng 4 năm 2009.
^Wells, H. G. (1921), The Outline of History: Being A Plain History of Life and Mankind, New York: Macmillan Company, hlm. 137.
^"Social classes in ancient Egypt". Digital Egypt for Universities, University College London. Diakses 11 Desember 2007.
^Possehl, G. L. (October 1990). "Revolution in the Urban Revolution: The Emergence of Indus Urbanization". Annual Review of Anthropology 19: 261—282. doi:10.1146/annurev.an.19.100190.001401. Diakses 6 Mei 2007.
^"Excavations at Alamgirpur", Indian Archaeology, A Review, Delhi: Archaeolical Survey of India, 1958-1959
^Leshnik, Lawrence S. (October 1968). "The Harappan "Port" at Lothal: Another View". American Anthropologist, New Series, 70 (5): 911—922. doi:10.1525/aa.1968.70.5.02a00070. JSTOR 669756.
^"Indus civilization". Encyclopædia Britannica. 2007. Diakses ngày 19 tháng 10 năm 2008.
^Gupta, Anil K. (10 Juli 2004), "Origin of Agriculture and Domestication of Plants and Animals Linked to Early Holocene Climate Amelioration", Current Science, 87, No. 1, Indian Academy of Sciences
^Baber, Zaheer (1996), The Science of Empire: Scientific Knowledge, Civilization, and Colonial Rule in India, State University of New York Press, ISBN 0-7914-2919-9
^Harris, David R.; Gosden, C. (1996), The Origins and Spread of Agriculture and Pastoralism in Eurasia: Crops, Fields, Flocks And Herds, Routledge, hlm. 385, ISBN 1-85728-538-7
^Harris, David R.; Gosden, C. (1996), The Origins and Spread of Agriculture and Pastoralism in Eurasia: Crops, Fields, Flocks And Herds, Routledge, hlm. 385, ISBN 1-85728-538-7.
^Encyclopædia Britannica. "Harappa (Pakistan) - Britannica Online Encyclopedia". Britannica.com. Diakses 9 Januari 2010.
^"Early Indian Culture—Indus Civilization". Diakses ngày 18 tháng 4 năm 2009.
^Kenoyer, Jonathan (1998). Ancient Cities of the Indus Valley Civilization. Oxford University Press.
^Li, X; Harbottle, Garman; Zhang Juzhong; Wang Changsui (2003). "The earliest writing? Sign use in the seventh millennium BC at Jiahu, Henan Province, China". Antiquity 77 (295): 31—44.
^"Asia-Pacific | Chinese writing '8,000 years old'". BBC News. 2007-05-18. Diakses ngày 18 tháng 4 năm 2009.
^"Carvings may rewrite history of Chinese characters". Xinhua online. 18 Mei 2007. Diakses 19 Mei 2007.
^"Public Summary Request Of The People's Republic Of China To The Government Of The United States Of America Under Article 9 Of The 1970 Unesco Convention". Bureau of Educational and Cultural Affairs, U.S. State Department. Diarsipkan dari aslinya tanggal ngày 15 tháng 12 năm 2007. Diakses 12 Januari 2008.
^"The Ancient Dynasties". University of Maryland. Diakses 12 Januari 2008
^Zaman Perunggu Tiongkok di National Gallery of Art
^Fairbank, John King and Merle Goldman (1992). China: A New History; Second Enlarged Edition (2006). Cambridge: MA; London: The Belknap Press of Harvard University Press. ISBN 0-674-01828-1
^T. Culen, Ritual pemakaman Mesolitik di Gua Franchthi, Yunani Antiquity.ac.uk
^"Ancient Greece: The National Archaeological Museum of Athens". Athens-greece.us. Diakses 17 Agustus 2012.
^Graeber & Wengrow 2021, tr. 362, "There is no doubt that, in most of the areas that saw the rise of cities, powerful kingdoms and empires also eventually emerged."
^Hourani 1991, tr. 5, 11, "In the early seventh century a religious movement appeared on the margins of the great empires, those of the Byzantines and Sasanians, which dominated the western half of the world....The Byzantine and Sasanian empires were engaged in long wars, which lasted with intervals from 540 to 629."
^Bentley, Subrahmanyam & Wiesner-Hanks 2015a, tr. 355, "Despite the political infighting and progressively unstable political situation, Shah Rukh in Herat and Ulugh Beg in Samarkand fostered a cultural and artistic renaissance in the Timurid domains."
Hayas 1953, tr. 2, "...that certain distinctive features of our Western civilization—the civilization of western Europe and of America—have been shaped chiefly by Judaeo–Christianity, Catholic and Protestant."
Woods & Canizares 2012, tr. 1, "Western civilization owes far more to Catholic Church than most people—Catholic included—often realize. The Church in fact built Western civilization."
^Bentley, Subrahmanyam & Wiesner-Hanks 2015a, tr. 60, "Then, in the 1340s, Mongol armies attacked the Black Sea port of Caffa in the Crimean region, and from that point on the infection spread into the Mediterranean, and then north into Europe, reaching Scandinavia within two years, and east and south into the Muslim societies of the eastern Mediterranean and North Africa."
^Tadesse, Tamrat (1984). “The Horn of Africa: The Solomonids in Ethiopia and the states of the Horn of Africa”. General History of Africa. 4. UNESCO. tr. 423, 431.
^Huffman, Thomas N. (2015). “Mapela, Mapungubwe and the Origins of States in Southern Africa”. The South African Archaeological Bulletin. 70 (201): 15–27. ISSN0038-1969.
^Fagan, Brian (1984). “The Zambezi and Limpopo basins: 1100–1500”. General History of Africa. 4. UNESCO.
^Benjamin 2015, tr. 426, "After China was reunified in 589 by the Sui dynasty (581–618) and suddenly became a looming regional superpower, Silla began exploring even more active ties with China."
Evans và đồng nghiệp 2007, tr. 14279, "The 'boundary' of the urban complex of Angkor, as it can be loosely defined from the infrastructural network, encloses ~900–1,000 km2 compared with the ~100–150 km2 of Tikal, the next largest preindustrial low-density city for which we have an overall survey. Mirador, a Pre-Classic Maya urban complex, and Calakmul, a Classic site near Tikal, may be more extensive, but as yet we do not have comprehensive overall surveys for these sites; it is nonetheless clear that no site in the Maya world approaches Angkor in terms of extent."
^Coedès 1968, tr. 225, "However that may be, various texts agree that the solemn coronation of Fa Ngum, which marks the founding of the kingdom of Lan Chang, took place in 1353; this date has most probably been transmitted correctly."
^Lieberman 2003, tr. 125, "In the heart of the dry zone, near the juncture of the Irrawaddy with the famed granary of Kyaukse, Ava was founded in 1365."
Ricklefs 2001, tr. 4, "The first evidence of Indonesian Muslims concerns the northern part of Sumatra. In the graveyard of Lamreh is found the gravestone of Sultan Suleiman bin Abdullah bin al-Basir, who died in AH 608/AD 1211. This is the first evidence of the existence of an Islamic kingdom in Indonesia."
Flenley & Bahn 2003, tr. 109, "From the islanders' testimony and other Polynesian ethnography it is virtually certain that the statues represented high-ranking ancestors, often served as their funerary monument, and kept their memory alive–like the simple upright slabs in front of platforms in the Society Islands, which represented clan ancestors, or the statues dominating the terraces of sanctuaries in the Marquesas, which were famous old chiefs or priests."
^Bentley, Subrahmanyam & Wiesner-Hanks 2015a, tr. 192, "The Italian city-states developed business procedures that have been described as early capitalism, although this was already business as usual in Asian port-cities such as Cambay, Calicut and Zayton."
^Christian 2011, tr. 383, "Because such crops flourished where more familiar staples grew less well, American crops effectively increased the area under cultivation and thereby made possible population growth in many parts of Afro-Eurasia from the 16th century onward."
^Bentley, Subrahmanyam & Wiesner-Hanks 2015a, tr. 469, "Having determined to build a distinctive Iranian, Shi'a identity for their empire, the Safavids forced the conversion of all Muslims in their territory to Shi'ism."
^Bentley, Subrahmanyam & Wiesner-Hanks 2015a, tr. 456, "In the Middle East, Central Asia and India, the Ottoman, Safavid and Mughal empires adopted firearms so enthusiastically that they are often referred to as 'gunpowder empires.'"
^Bulliet et al. 2015b, tr. 626, "In the region of the Caucasus Mountains, the third area of southward expansion, Russia first took over Christian Georgia (1786), Muslim Azerbaijan (1801), and Christian Armenia (1813) before gobbling up the many small principalities in the heart of the mountains."
^Bentley, Subrahmanyam & Wiesner-Hanks 2015a, tr. 358, "Political and military instability, succession disputes and conflicts with the Türkmen and Uzbeks vitiated these remarkable economic achievements, weakening the Timurids and making them vulnerable to the previously nomadic Uzbeks, who became the dominant force in Central Asia from the sixteenth to the early nineteenth century."
^Carter & Butt 2005, tr. 4, "Historians of different kinds will often make some choice between a long Renaissance (say, 1300–1600), a short one (1453–1527), or somewhere in between (the fifteenth and sixteenth centuries, as is commonly adopted in music histories)."
Keay 2000, tr. 410–411, 420, "This brought the British into potential conflict with Ranjit Singh, a young Sikh leader who had been prominent in repulsing Afghan attacks by Ahmed Shah Abdali's successors and who, since occupying Lahore in 1799, had been pursuing a policy of conquest and alliance that mirrored that of the British...over the next 30 years the Raja of Lahore, comparatively free of British interference, would blossom into the Maharaja of the Panjab, creator of the most formidable non-colonial state in India...Ranjit had by 1830 created a kingdom, nay an 'empire', rated by one visitor 'the most wonderful object in the whole world'."
^Yoffee 2015, tr. 74, "When the Portuguese admiral Alfonso de Albuquerque conquered the sultanate of Melaka (Malacca) on August 24, 1511, he brought under Portuguese control a Southeast Asian polity whose reach stretched across the Malay peninsula."
McNeill & Pomeranz 2015a, tr. 430, "That said, and ever since the initial Eastern seaboard settler wars against the Tsenacommacahs and Pequots in the 1620s and early 1630s, systematic genocidal massacre was a core component of native destruction throughout three centuries of largely 'Anglo' expansion across continental North America."
Blackhawk và đồng nghiệp 2023, tr. 38, "With these works, a near consensus emerged. By most scholarly definitions and consistent with the UN Convention, these scholars all asserted that genocide against at least some Indigenous peoples had occurred in North America following colonisation, perpetuated first by colonial empires and then by independent nation-states"
Kiernan, Lemos & Taylor 2023, tr. 622, "These mass killings represent turning points in the history of the Spanish Atlantic conquest and share important characteristics. Each targeted Amerindian communities. Each was entirely or partially planned and executed by European actors, namely Spanish military entrepreneurs under the leadership of friar Nicolás de Ovando, Hernán Cortés and Pedro de Alvarado respectively. Each event can be described as a 'genocidal massacre' targeting a specific community because of its membership of a larger group"
Wheeler 1971, tr. 441, "This view overlooks the fact that, in the forty years since Shelikhov had founded the first permanent settlement on Kodiak Island in 1784, only eight additional settlements had been established, none of which was south of 57° north latitude."
^Bulliet et al. 2015b, tr. 562, "Manchester's rise as a large, industrial city was a result of what historians call the Industrial Revolution, the most profound transformation in human life since the beginnings of agriculture."
^Bulliet et al. 2015b, tr. 563, "The first countries to industrialize grew rich and powerful, facilitating a second great wave of European imperialism in the 19th century."
^Kedar & Wiesner-Hanks 2015, tr. 206, "The half-century preceding the outbreak of World War I stands out as an era of European economic, political, and cultural dominance never achieved before and impossible to sustain at the end of the war."
^McNeill & Pomeranz 2015a, tr. 507–508, "Indeed, Japan's China war between 1931 and 1945 exacted the heaviest toll in lives of all colonial wars – between 10 and 30 million Chinese deaths being the best estimates available in the absence of official or authoritative statistics."
^Christian 2011, tr. 456–457, "The collapse of the Soviet Union was, as Mikhail Gorbachev understood, a failure to compete economically and technologically."
McNeill & Pomeranz 2015a, tr. 609, "But the crisis beginning in 2007, with the eddying effects of the subprime lending-induced financial crash, demonstrated how vital the health of the American economy remained for global growth and stability. Events and processes outside the United States continued to affect the internal politics and economics, and vice versa. The United States and the rest of the world were interconnected, and disengagement was impossible."
Kolbert 2023, "[T]he world's phosphorus problem [arising from the element's exorbitant use in agriculture] resembles its carbon-dioxide problem, its plastics problem, its groundwater-use problem, its soil-erosion problem, and its nitrogen problem. The path humanity is on may lead to ruin, but, as of yet, no one has found a workable way back."
Barro, Robert J.; Lee, Jong-Wha (2015). “2. International Comparisons of School Enrollment and Educational Attainment, 1870–2010”. Trong Barro, Robert J.; Yi, Chong-hwa (biên tập). Education Matters: Global Schooling Gains from the 19th to the 21st Century. Oxford University Press. ISBN978-0-19-937923-1.
Baumann, Martin (2010). “Hinduism”. Trong Melton, J. Gordon; Baumann, Martin (biên tập). Religions of the World: A Comprehensive Encyclopedia of Beliefs and Practices [6 volumes]. Bloomsbury. ISBN978-1-59884-204-3.
Bentley, Jerry H.; Ziegler, Herbert F. (2008). Traditions & Encounters: A Global Perspective on the Past: Volume II From 1500 to the Present (ấn bản thứ 4). McGraw Hill. ISBN978-0-07-333063-1.
Bristow, William (2023). “Enlightenment”. The Stanford Encyclopedia of Philosophy. Metaphysics Research Lab, Stanford University. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2024.
Cajani, Luigi (2013). “Periodization”. Trong Bentley, Jerry H. (biên tập). The Oxford Handbook of World History. Oxford University Press. ISBN978-0-19-968606-3.
Chakrabarti, Dilip K. (2004). “Introduction”. Trong Chkrabarti, Dilip K. (biên tập). Indus Civilization Sites in India: New Discoveries. Marg. tr. 10–13. ISBN978-81-85026-63-3.
Chrisp, Peter (2016). “Civilizations Develop”. Big History: Our Incredible Journey, from Big Bang to Now. Dorling Kindersley. ISBN978-0-241-22590-5. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024.
Christian, David (2015a). “Introduction and Overview”. Trong Christian, David (biên tập). The Cambridge World History. Cambridge University Press. ISBN978-0-521-76333-2.
Geraghty, Paul (1994). “Linguistic Evidence for the Tongan Empire”. Trong Dutton, Tom (biên tập). Language Contact and Change in the Austronesian World. Trends in linguistics: Studies and monographs. 77. Gruyter. ISBN978-3-11-012786-7. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016.
Goldhill, Simon (1997). “The Audience of Athenian Tragedy”. Trong Easterling, P. E. (biên tập). The Cambridge Companion to Greek Tragedy. Cambridge Companions to Literature series. Cambridge University Press. tr. 54–68. ISBN0-521-42351-1.
Hughes-Warrington, Marnie (2015). “Writing World History”. Trong Christian, David (biên tập). The Cambridge World History. Cambridge University Press. ISBN978-0-521-76333-2.
Kiernan, Ben; Lemos, T. M.; Taylor, Tristan S. biên tập (2023). The Cambridge World History of Genocide. 1: Genocide in the Ancient, Medieval and Premodern Worlds. Cambridge University Press. doi:10.1017/9781108655989. ISBN978-1-108-65598-9.
Koch, Paul L.; Barnosky, Anthony D. (2006). “Late Quaternary Extinctions: State of the Debate”. Annual Review of Ecology, Evolution, and Systematics. 37 (1): 215–250. doi:10.1146/annurev.ecolsys.34.011802.132415. S2CID16590668.
Kte'pi, Bill (2013). “Chronology”. Trong Ainsworth, James (biên tập). Sociology of Education: An A-to-Z Guide. Sage. ISBN978-1-5063-5473-6. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2023.
Lal, Vinay (2001). “The Mughal Empire”. Manas: India and its Neighbors. University of California, Los Angeles. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2015.
Lang, Michael (2015). “Evolution, Rupture, and Periodization”. Trong Christian, David (biên tập). The Cambridge World History. Cambridge University Press. ISBN978-0-521-76333-2.
Larson, G.; Piperno, D. R.; Allaby, R. G.; Purugganan, M. D.; Andersson, L.; Arroyo-Kalin, M.; Barton, L.; Climer Vigueira, C.; Denham, T.; Dobney, K.; Doust, A. N.; Gepts, P.; Gilbert, M. T. P.; Gremillion, K. J.; Lucas, L.; Lukens, L.; Marshall, F. B.; Olsen, K. M.; Pires, J. C.; Richerson, P. J.; Rubio De Casas, R.; Sanjur, O. I.; Thomas, M. G.; Fuller, D. Q. (2014). “Current Perspectives and the Future of Domestication Studies”. PNAS. 111 (17): 6139–6146. Bibcode:2014PNAS..111.6139L. doi:10.1073/pnas.1323964111. PMC4035915. PMID24757054.
Lewton, Kristi L. (2017). “Bipedalism”. Trong Fuentes, Agustín (biên tập). The International Encyclopedia of Primatology, 3 Volume Set. John Wiley & Sons. ISBN978-0-470-67337-9.
Manning, Patrick (2013). “Epistemology”. Trong Bentley, Jerry H. (biên tập). The Oxford Handbook of World History. Oxford University Press. ISBN978-0-19-968606-3.
McPherron, Shannon P.; Alemseged, Zeresenay; Marean, Curtis W.; Wynn, Jonathan G.; Reed, Denné; Geraads, Denis; Bobe, René; Béarat, Hamdallah A. (2010). “Evidence for Stone-tool-assisted Consumption of Animal Tissues Before 3.39 million Years Ago at Dikika, Ethiopia”. Nature. 466 (7308): 857–860. Bibcode:2010Natur.466..857M. doi:10.1038/nature09248. PMID20703305. S2CID4356816.
Naughton, John (2016). “The Evolution of the Internet: From Military Experiment to General Purpose Technology”. Journal of Cyber Policy. 1 (1): 5–28. doi:10.1080/23738871.2016.1157619. ISSN2373-8871.
Naver. 남북국시대 [North-South States Period]. Encyclopedia (bằng tiếng Hàn). Naver. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2016.
Northrup, David R. (2015). “From Divergence to Convergence: Centrifugal and Centripetal Forces in History”. Trong Christian, David (biên tập). The Cambridge World History. Cambridge University Press. ISBN978-0-521-76333-2.
O'Rourke, Kevin H.; Williamson, Jeffrey G. (2002). “When Did Globalization Begin?”. European Review of Economic History. 6 (1): 23–50. doi:10.1017/S1361491602000023. S2CID15767303.
Stutz, Aaron Jonas (2018). “Paleolithic”. Trong Trevathan, Wenda; Cartmill, Matt; Dufour, Darna; Larsen, Clark (biên tập). The International Encyclopedia of Biological Anthropology. Hoboken, NJ: John Wiley & Sons. tr. 1–9. doi:10.1002/9781118584538.ieba0363. ISBN978-1-118-58442-2. S2CID240083827. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2022.
The Association of Korean History Teachers (2005). Korea Through the Ages; Volume One: Ancient. The Center for Information on Korean Culture, The Academy of Korean Studies. ISBN978-89-7105-545-8.
Wengrow, David (2011). “The Invention of Writing in Egypt”. Before the Pyramids: Origin of Egyptian Civilization. Oriental Institute of the University of Chicago.
Wheeler, Mary E. (1971). “Empires in Conflict and Cooperation: The "Bostonians" and the Russian-American Company”. Pacific Historical Review. 40 (4): 441. JSTOR3637703.
Whitecotton, Joseph W. (1977). The Zapotecs: Princes, Priests, and Peasants. University of Oklahoma Press.
Wragg-Sykes, Rebecca (2016). “Humans Evolve”. Big History: Our Incredible Journey, from Big Bang to Now. Dorling Kindersley. ISBN978-0-241-22590-5. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024.
Xue, Zongzheng (1992). A History of Turks. Chinese Social Sciences Press.