Hoằng Lộc
Hoằng Lộc là một xã thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Địa lý - Hành chínhHoằng Lộc cách trung tâm huyện Hoằng Hóa 6 km về phía Bắc, cách Quốc lộ 1 và trung tâm Thành phố Thanh Hóa 5 km về phía Tây. Địa giới hành chính:
Hoằng Lộc có tổng diện tích tự nhiên là 253,99 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 126,25 ha chiếm 49,7%. Dân số hiện nay là 5265 người [3] (số liệu năm 1999) với 1617 hộ, sống quần cư trong phạm vi hơn 2.6 km². Hiện nay xã Hoằng Lộc gồm 7 thôn là: Đình Bảng, Đông Phú, Đông Tiến (Thôn Bái Đông và Hưng Tiến gộp lại), Phúc Lộc (Thôn Chùa và Thôn Lay gộp lại), Tiến Thành (Thôn Đà và Thôn Sau gộp lại), Thành Nam (Thôn Bắc Nam và Đình Nam gộp lại), Đồng Thịnh (Thôn Đồng Mẫu và Hưng Thịnh gộp lại). Lịch sửHoằng Lộc là xã thôn nằm trong khu vực trung tâm của những làng cổ ở xứ Thanh. Làng được hình thành và phát triển từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn cách đây 2000 năm. Thời xưa, Hoằng Lộc có tên là Kẻ Vụt. Từ thế kỉ 10 có tên là Đường Bột trang. Đến thời Lê Sơ thì Đường Bột được gọi là Đà Bột, bấy giờ Đà Bột gồm 2 làng là Bột Thượng và Bột Hạ, sau này muộn nhất vào thế kỷ XV, Bột Hạ được đổi tên thành Bột Thái. Tuy mỗi làng xã có tên riêng nhưng mọi người vẫn gọi chung là Làng Bột hay Lưỡng Bột hoặc Nhị Bột. Thời Gia Long, hai làng Bột Thượng và Bột Thái thuộc tổng Hành Vỹ, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), hai làng Bột Thượng và Bột Thái lại được tái nhập và mang địa danh mới là xã Hoằng Đạo. Cuối thế kỉ XIX, xã Hoằng Đạo lại được tách thành hai xã Hoằng Nghĩa và Bột Hưng, vẫn thuộc tổng Hành Vỹ. Hai tên mới Hoằng Nghĩa và Bột Hưng tồn tại cho đến Cách mạng tháng Tám 1945 rồi được sáp nhập vào các xã Thịnh Hòa, Đoan Vỹ, Bình Yên thành xã Hưng Thịnh[4]. Đúng vào ngày tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (6/01/1946), Hoằng Nghĩa và Bột Hưng được tách riêng và gộp thành xã Hoằng Bột. Tháng 4/1947, xã Hoằng Bột sáp nhập cùng các xã Bái Trung, Đại Báo lập thành xã Hoằng Lộc[4]. Cuối năm 1953, xã lớn Hoằng Lộc được chia thành bốn xã: Hoằng Lộc (mới), Hoằng Trạch, Hoằng Đại, Hoằng Thành. Xã Hoằng Lộc (mới) ổn định đến nay[4]. Đến năm 2018 xã Hoằng Lộc gồm 12 thôn: Đình Nam, Bắc Nam, Hưng Tiến, Bái Đông, Đình Bảng, Đông Phú, Hưng Thịnh, Chùa, Đà, Sau, Lay, Đồng Mẫu. Tháng 10 năm 2018, xã Hoằng Lộc còn lại 7 thôn là: Đình Bảng, Đông Phú, Đông Tiến (Thôn Bái Đông và Hưng Tiến gộp lại), Phúc Lộc (Thôn Chùa và Thôn Lay gộp lại), Tiến Thành (Thôn Đà và Thôn Sau gộp lại), Thành Nam (Thôn Bắc Nam và Đình Nam gộp lại), Đồng Thịnh (Thôn Đồng Mẫu và Hưng Thịnh gộp lại). Giáo dục - Y tếToàn xã có 1 trường Mầm non (Trường mầm non Hoằng Lộc), 1 trường Tiểu học (Trường Tiểu học Lê Mạnh Trinh), 1 trường Trung học (Trường Trung học Cơ sở Tố Như) và 1 trạm y tế xã (Trạm y tế xã Hoằng Lộc) Nhân vật nổi bậtHoằng Lộc nổi tiếng là một cái nôi của truyền thống hiếu học và khoa bảng xứ Thanh. Hình thể của xã vuông vức, khiến có người nghĩ rằng vùng đất học này giống một cái nghiên lớn và con đường từ Nguyệt Viên (xã Hoằng Quang) về làng tựa như một cái bút đang chấm vào nghiên mực. Văn bia ở Văn từ huyện Hoằng Hóa đã khắc họa địa thế và vị trí đặc sắc của Hoằng Lộc: "Hình thế thì có núi Phong Châu làm án, có dòng sông Mã uốn quanh, non sông đúc kết khí thiêng, sinh trưởng nhân tài anh tuấn... kẻ sĩ nhiều người đỗ đạt, danh tiếng lẫy lừng, đứng hàng đầu Châu Ái mà sánh chung cả nước" [3]. Từ thế kỷ 19, giới nho sĩ Hoằng Hóa đã lập văn từ thờ Khổng Mạnh và những bậc văn nhân của huyện ngay trên đất Hoằng Lộc [3]. Nơi đây chính là quê hương của Nguyễn Quỳnh, con người tài ba được xã hội đương thời xếp vào "Tràng An tứ hổ": "Nhất Quỳnh, nhì Nam, tam Hoàn, tứ Tuấn" [3]. Hoằng Lộc có lịch sử khoa cử 438 năm, lịch sử ghi nhận kể từ năm có vị khai khoa là Nguyễn Nhân Lễ, đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, Hồng Đức thứ 12 (1481) đến khoa thi nho học cuối cùng triều Khải Định (1919). Trong hơn bốn thế kỷ, Hoằng Lộc có 12 người được đề danh trên bảng vàng đại khoa, trong đó có bảy vị được khắc tên tại bia đá đặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám; có hai người đỗ tam khôi là Bảng nhãn Bùi Khắc Nhất và Thám hoa Nguyễn Sư Lộ; hai người đỗ Đình nguyên Hoàng giáp là Nguyễn Thứ và Nguyễn Lại (hai kỳ thi này không lấy tam khôi); một người đỗ Hội nguyên là Nguyễn Nhân Thiệm và hai người đỗ Hoàng giáp là Nguyễn Cẩn và Nguyễn Bá Nhạ. Danh sách mười hai người đỗ đại khoa:
Bên cạnh đó, có nhiều người tuy chỉ đỗ Cử nhân nhưng uy tín, đức độ, chức vụ cũng khá nổi tiếng như: Nguyễn Quỳnh, Hà Duy Phiên, Nguyễn Huy Lịch, Lê Huy Tiêu... Tóm tắt thân thế, sự nghiệp của 12 vị Đại Khoa
Thượng thư Quận công Bùi Khắc Nhất (1533 - 1609)Cụ Bùi Khắc Nhất sinh năm Quý Tỵ (1533) trong một gia đình nhà nho nghèo quê làng Bột Thái (nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa), cha là giám sinh Quốc tử giám Bùi Doãn Hiệp. Năm Giáp Tý (1564), Bùi Khắc Nhất đỗ hương cống năm Ất Sửu (1565) đỗ đệ nhất giáp chế khoa cập đệ nhị danh (tức Bảng nhãn) đứng đầu Tam khôi. Và cụ là 1 trong 12 vị đại khoa đầu tiên qua các triều đại phong kiến của quê hương ta. Với 44 năm liên tục làm quan, giữ nhiều trọng trách lớn lao của triều đình nhà Lê trung hưng, kinh qua 6 bộ, trải qua 3 triều vua, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ở cương vị nào cụ cũng giải quyết công việc một cách trọn vẹn. Năm Kỷ Hợi (1599) cụ được vinh phong Hiệp mưu tá ký công thần. Cùng năm ấy được thăng hộ bộ thượng thư, tước Văn phú bá, trụ quốc thượng trật. Sau đổi sang làm Binh bộ thượng thư. Đồng thời phong bà chính thất lên Tự phu nhân và 2 bà thứ thất đều được phong là Liệt phu nhân. Tướng công Bùi Khắc Nhất mất ngày 8/11 năm Kỷ Dậu (1609) tại triều đình. Hưởng thọ 77 tuổi. Với những công lao to lớn của cụ nên sau khi cụ mất vẫn được các triều đại phong kiến sau này phong tặng nhiều danh hiệu cao quý: Năm 1610 được truy phong Phú quận công; năm Bảo Thái thứ 3 (1724) được xếp là công thần trung hưng bậc nhì; năm Cảnh Hưng 43 (1782) được phong Thượng đẳng phúc thần, Tuy dụ hùng lược đại vương, năm đầu niên hiệu Gia Long (1802) cụ lại được xếp bậc nhì công thần trung hưng. Với ý nghĩa đó, khu di tích Đền thờ và lăng mộ thượng thư quận công Bùi Khắc Nhất đã được Bộ Văn hóa và thông tin nước CHXHCN Việt Nam xếp hạng là di tích LS-VH cấp quốc gia vào tháng 7 năm 2000. Trạng QuỳnhHoằng Lộc là quê hương của Nguyễn Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại lấy cốt lõi từ cuộc đời ông rồi hư cấu thêm gọi là truyện Trạng và dân gian gọi ông là Trạng Quỳnh mặc dù ông chỉ đỗ hương cống. Nguyễn Quỳnh sinh năm 1677 trong một gia đình Nho giáo có truyền thống hiếu học tại làng Bột Thượng nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Từ nhỏ ông nổi tiếng là người thông minh, tài trí hơn người. Năm 14 tuổi văn tài đã khá, đi thi Huyện trúng cả 4 kỳ. Năm 18 tuổi (1694) Nguyễn Quỳnh theo cha ra Thăng Long học tập, lúc này, cha ông làm Giám sinh Quốc tử giám tại Kinh thành. Năm Bính Tý (1696) ông thi đậu giải Nguyên (tức là đỗ đầu kì thi hương), lúc này Nguyễn Quỳnh tròn 20 tuổi. Ông có sở trường thơ phú, có học vấn uyên thâm, tài năng ứng biến. Người đương thời đánh giá cao tài năng của ông "Nguyễn Quỳnh - Nguyễn Nham thiên hạ vô tam" và thường gọi ông là Quốc sư hay Trạng nguyên.
Thời đại Nguyễn Quỳnh là thời đại khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Việt Nam, nhân dân thì lầm than cực khổ, bọn phong kiến thống trị thì hoang dâm, xa xỉ, chia bè kéo cánh, mưu lợi ích riêng, kỷ cương không còn, trường thi trở thành nơi vơ vét làm giàu. Bản thân Nguyễn Quỳnh là con người thông minh tài trí nhưng lận đận trong thi cử, gặp nhiều trắc trở trên hoan lộ, nơi trường ốc. Nhiều khoa thi ông không đỗ, không hợp cách để có thể vào thi Đình nhận danh hiệu Tiến sĩ. Làm học quan lương thấp không bổng lộc, phải nuôi mẹ, nuôi em, cuộc sống của ông nghèo khổ, quẫn bách, đã thế ông còn bị giáng chức hạ lương. Việc giáng truất là do chúa Trịnh trực tiếp quyết định, chắc chắn là do ông chán ghét chế độ hủ bại, khinh bỉ bọn vua chúa, quan lại nên đã có những lời nói, hành động chống lại chúa. Đau xót trước cảnh ngộ chua chát, éo le của bản thân, phẫn nộ trước sự bất công thối nát của triều đình. Con người nhân cách lớn lao này đã cùng với nhân dân vạch trần bộ mặt thật của bọn thống trị, nói lên tiếng nói phản phong mạnh mẽ, quyết liệt. Vốn không có chí làm quan nên mãi sau ông mới nhậm chức giáo thụ phủ Thái Bình sau thăng lên chức Viên ngoại bộ lễ, tước hàn lâm tu soạn. Ông có mặt ở kinh thành Thăng Long từ năm 1720-1729 đời vua Lê Dụ Tông cho đến cuối đời. Với cuộc đời sự nghiệp của Nguyễn Quỳnh cùng những trang thơ phú của ông đã trở thanh mẫu hình cho nhân vật Trạng Quỳnh nổi tiếng sống mãi với thời gian. Ông tạ thế ngày 28/01 năm Mậu Thìn (1748) thọ 72 tuổi. Những câu chuyện Trạng Quỳnh còn để lại có thể là hư cấu, nhưng có thể khẳng định dân gian đã dựa vào con người thực Nguyễn Quỳnh để phát triển nên một nhân vật sinh động và tài tình là Trạng Quỳnh. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu: Từ ngày cụ Quỳnh mất đến nay chúng ta thường nhắc đến con người ấy, đến Trạng Quỳnh và kể chuyện Trạng Quỳnh đâu phải là ngẫu nhiên. Nhưng đó là truyện, còn con người phải có một con người có thật và hôm nay chúng ta đã tìm được con người đó. Năm 1990, đền thờ ông tại Hoằng Lộc đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia [5][6]. Di tích - Danh thắngBảng Môn ĐìnhBảng Môn Đình (Đình Bảng) được dựng lên từ thế kỷ 15, vừa là nơi tế lễ thành hoàng làng, là nơi tôn vinh truyền thống học hành, khoa bảng, nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tổ chức các lễ hội. Nét đặc sắc ở đây là Bảng Môn Đình trở thành nơi hội tụ, hoạt động, đào luyện những người theo nho học, những trí thức trong làng, nơi học hỏi những điều hay trong các buổi bình văn giảng tập. Từ đó đình có tên Bảng Môn, có nghĩa là cửa vào của các nhà khoa bảng. Di vật trong Bảng Môn Đình còn giữ lại được gồm một bức đại tự "Địa Linh Nhân Kiệt" và hai bản "Thúc Ước Văn". Gần đây, những di tích lịch sử như tấm bia "Đường Bột Kiều Bi", một tấm bia lớn ghi công trạng của các vị đại khoa và "Hòn đá Sư lộ" được đưa về trước cửa đình. Đây còn là ngôi đình cổ với kiến trúc điêu khắc vô cùng đặc sắc. Trong đó, đáng chú ý nhất chính là những hình ảnh chạm khắc (chạm lộng, chạm thủng kênh bong) nổi khối như tượng tròn trên cấu kiện kiến trúc. Đặc biệt, bên trong đình, ngay cửa hậu cung thờ Thành hoàng Nguyễn Tuyên hiện vẫn còn nguyên vẹn phù điêu với các nét chạm khắc mây, đao, tráng sĩ cưỡi voi, trạng nguyên cưỡi ngựa... đẹp như tranh vẽ, gấm dệt. Năm 1990, Bảng Môn Đình đã được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật và trở thành biểu tượng cho tinh thần hiếu học của người Hoằng Lộc nói riêng, người dân Hoằng Hóa nói chung.[5]
Hội làng Bột Thượng
Không khí hội làng vui tươi ấy còn được ghi trong câu ca của làng: "Xã ta đóng áng giữa đồng/ Trông lên lồ lộ những rồng cùng tiên". Phần lễ, nghi lễ cúng tế được cử hành trọng thể, đọc thúc ước văn bằng chữ nôm tại đình Đụn, 5 toà miếu, Văn chỉ và các nhà thờ họ. Các vị thần được thờ trong làng đứng đầu là Thành hoàng Nguyễn Tuyên - một vị công thần thời Lý có công giúp vua Lý Thái Tông dẹp giặc Chiêm Thành đầu thế kỷ XI. Sau đó, ông được dân làng nơi đây mến mộ, kính trọng đưa vào hưởng tế Thành hoàng làng. Phần hội là các trò chơi, trò diễn mang đậm yếu tố dân gian như: đấu vật, đánh cờ, đua thuyền, múa hát... Tham khảo
Liên kết ngoài |